MẹTrần Thị Thanh Hương và các con trong giờ nghỉ

Cái cơ ngơi ấy gồm 20 gian nhà tranh trên mảnh đất 2.500m2 ở phường Hợp Đức, thị xã Đồ Sơn, Thành phố Hải Phòng. Ở đó có một người phụ nữ vừa là mẹ vừa làm giám đốc của 105 "công nhân" toàn là trẻ tật nguyền của đồng đội gửi chị nuôi dưỡng, mong có một ngày nào đó chúng được trở lại hòa nhập với cộng đồng. Người mẹ ấy là Trần Thị Thanh Hương, thương binh 1/4.

Chúng ùa ra cổng, đứa đi trên đôi nạng gỗ, đứa đi đi trên đôi tay còn chân chỉ là hai cục thịt lủng lẳng, vô cảm. Chào chúng tôi bằng những động tác múa như diễn viên xiếc, là các cháu bị câm điếc. Nhưng trên khuôn mặt còn rất trẻ thơ của những trẻ tật nguyền ấy vẫn rực rỡ những nụ cười hạnh phúc, vô tư, những đôi mắt đen ánh lên một niềm tin bất tận. 20 cháu, đứa rót nước, đứa kéo ghế, mời tôi ngồi rồi tất cả chào chung bằng bài hát "Như những cánh chim bay" mà cháu quản ca giới thiệu "Đây là bài hát của gia đình chúng cháu".

- Mang cho mẹ chiếc ghế. Các con rót nước mời các bác giúp mẹ-Chị Trần Thị Thanh Hương ngồi xuống cạnh tôi rồi bắt đầu câu chuyện dài như một cuốn sử thi.

Năm 1966, 18 tuổi, học xong cấp III, cô học sinh đẹp và rực rỡ như bông hoa phượng đỏ ở thành phố Cảng tình nguyện nhập vào lực lượng thanh niên xung phong lên đường vào tuyến lửa với ước mơ mà đêm trước cô thủ thỉ vào tai mẹ: "Con vào vận chuyển đạn và làm đường ở Vĩnh Linh". Vào đến Quảng Bình, đơn vị của chị dừng lại, bắt đầu công việc bạt núi ngăn sông, mở và vá đường Trường Sơn huyền thoại mà suốt ngày máy bay Mỹ quần đảo trên trời trút bom, rốc két xuống những mục tiêu di động mà chúng phát hiện được. Đến năm 1968, chị chuyển sang trung đoàn pháo cao xạ 214 bảo vệ đường Trường Sơn. Trong trận chiến đấu đối mặt với máy bay AD6, chị bị thương. Sơ cứu ở trạm phẫu trung đoàn rồi chị được chuyển ra Bắc.

Vượt sông Bến Hải, nghỉ lại trạm giao liên cạnh một đơn vị vận tải. Đêm ấy chị nghe có tiếng trẻ khóc ngằn ngặt như bị đói sữa. Bản năng của người phụ nữ như được đánh thức, chị nghiến răng chịu đau vì những vết thương đang hành hạ, cắt rừng đến nơi có tiếng khóc. Những người lính lái xe ngỡ ngàng khi nhìn thấy chị. Trò chuyện một hồi, họ mới biết chị đang trên đường ra Bắc. Thế là họ gửi chị đứa trẻ mới 5 tháng tuổi mà họ cứu được khi đi qua một làng ven đường vừa bị hàng chục loạt bom tọa độ.

- Tôi chưa có chồng, chưa có người yêu nhưng bắt đầu làm mẹ một cách tình cờ như thế-giọng chị đầm ấm, xót xa- Tôi đặt tên cháu là Lạc vì lúc ấy, tự nhiên tôi nhớ đến mẹ tôi mỗi lần đi chợ về bao giờ bà cũng mua lạc làm quà cho 5 chị em chúng tôi.

Ba ngày sau, chị lại có một đứa con thứ 2, đó là cháu Hằng, "con chung" của đại đội Thanh niên xung phong đóng ngay ở thị trần Hồ Xá, Vĩnh Linh.

- Hai đứa cách nhau 3 tuổi, một trai, một gái, tôi lấy họ của tôi làm họ cho hai cháu. Ba mẹ con lang thang từ Viện 105 đến Viện 7 rồi về Binh đoàn 11- chị kể- Ngày ấy tim tôi như nát ra vì những ánh mắt nghi ngờ. Đời sống thì thiếu thốn, cả ba mẹ con mùa hè nằm trên chiếc giường cá nhân trong căn phòng tập thể nóng như nung. Cũng may, cả hai con tôi như thông cảm với hoàn cảnh của mẹ nên đứa nào cũng hay ăn chóng lớn.

Năm 1981 ra quân vì sức khỏe, gửi hai con cho bố mẹ ở Hải Phòng, chị bắt đầu công cuộc đi tìm những đứa con mới.

- Cũng tình cờ tôi gặp một đồng đội cũ ở Quảng Ninh. Nhà anh ấy đông con nhưng có đến hai đứa bị nhiễm chất độc da cam. Nhìn thấy chúng, lòng tôi quặn đau. Không hiểu sao tôi nhận lời với vợ chồng anh sẽ đem hai đứa trẻ ấy về nuôi.

Chị ra Móng Cái thuê đất, dựng lều rồi quay lại Hải Phòng đón hai cháu Lạc-Hồng và cả hai đứa trẻ của người bạn ra khu đất mới. 5 mẹ con sống bằng nghề làm nấm rơm.

Cái tin chị nhận con nuôi được truyền đi rất nhanh. Đến năm 1999 chị đã có 21 đứa con quây quần trên mảnh đất chị thuê thêm của thị xã Móng Cái.

Cái gia đình lớn ấy tưởng đã bị "tan đàn xẻ nghé" khi chị nhận được bức điện từ Hải Phòng "Ba ốm nặng, con về ngay".

- Đầu tôi rối như tơ vò. Cũng may tôi có quen biết với các anh ở xí nghiệp thương binh 22-12. Gửi lại con cho các anh, tôi lên đường. Tưởng là về ít ngày, không ngờ bệnh của ba tôi quá nặng. Tôi ở nhà 3 tháng. Trong thời gian ấy, tôi gặp vợ chồng anh Đoàn Văn Hùng và Đinh Thị Tân ở Hợp Đức, thị xã Đồ Sơn. Qua trò chuyện, anh chị thông cảm cho hoàn cảnh nên đã cho mẹ con tôi mượn 2.500m2 đất sử dụng đến năm 2009. Làm tang cho ba xong, tôi quay quả trở lại Quảng Ninh. Sau một thời gian rất ngắn mẹ con tôi lại bồng bế, dắt díu nhau về đây, nơi hôm nay tiếp các anh.

Ấy là năm 2001, những ngày mẹ con chị trần lưng san nền, làm nhà, bằng chính sức lao động còn lại của mình. Cũng may Công ty cổ phần Hải-Đà (một công ty thương binh) đã giúp mẹ con chị 8000 viên gạch để xây được 4 gian nhà ở tạm.

Làm nhà xong, cái đầu tiên mà mẹ con chị tính đến là sản xuất mặt hàng gì để tồn tại, để sống, để cho những đứa trẻ con mình được cắp sách tới trường. Công ty Cổ phần Thiện Giao bắt đầu ra đời từ đó.

- Chọn cái tên này, mẹ con tôi muốn nói với mọi người rằng chúng tôi đang làm việc thiện cho chính mình, nhưng cũng phải có tri thức, có học, có kỹ năng mới giao tiếp và hòa nhập với cộng đồng.

10 gian nhà trồng nấm của công ty treo lủng lẳng những bịch ni lông có những cây nấm mọc li ti trắng toát. Tôi gặp cháu Hoàng Thị Hương, tuy liệt cả hai chân, nhưng vì thương mẹ nên đã quyết tâm cắp sách tới trường để trở thành một "chuyên gia kinh tế" giỏi. Cháu tự tin tâm sự với tôi.

- Mẹ Hương dạy chúng cháu phải tự kiếm sống bằng chính sức lao động của mình nên ở đây em nào cũng cố gắng. Là "cánh tay phải" của mẹ, cháu giúp mẹ giao cho các em những việc hợp với khả năng của từng người.

- Đưa tôi đến khu nhà trồng nấm rơm, chị Hương nhỏ nhẹ: Các con là con của chiến sĩ đồng đội tôi, tôi dạy các con tôi biết vươn lên trong cuộc sống bằng trí tuệ và sức lao động của chính mình. Tôi thường nói "Các con cứ làm đi rồi xã hội sẽ giúp đỡ các con".

Vài năm nay, các con chị đã có 10 cháu đi học. Gia đình chị luôn nói về các cô giáo ở trường phổ thông cơ sở Vạn Hương và Hợp Đức với giọng trìu mến, biết ơn:

- Hằng tuần, các cô giáo ở hai trường đều dành thời gian đến đây để dạy các con tôi và không cô nào nhận thù lao của mẹ con tôi. Nhân dân ở đây thật tốt. Tôi vẫn nhớ những bà mẹ ở trong làng mỗi lần đi chợ về qua, đều có quà cho các cháu. Các con tôi năm nay đã có 6 đứa học cấp hai, bốn đứa học cấp ba, tỷ lệ học khá giỏi đạt 85%.

Tôi hỏi chị: "Sao chị không làm đơn lên chính quyền hoặc nhờ các đơn vị giúp đỡ?".

Chị trả lời dứt khoát:

- Mẹ con tôi tự làm, tự sống, tự nuôi nhau, đây là sự tình nguyện không cần cam kết, giữa đồng đội với nhau, chứ có ai nhờ tôi đâu mà tôi xin-nhưng rồi chị cũng thổ lộ-Thành phố Hải Phòng dự định cấp cho công ty mẹ con tôi 5.000m2 vuông đất ở ngay liền mảnh đất này. Đó là điều kiện để công ty của mẹ con tôi phát triển.

Tôi biết đã có 85 cháu sau khi được ở với "mẹ Hương", đã dần hồi phục chức năng, trở về quê với bố mẹ đẻ. Có cháu đã lên đường nhập ngũ đóng quân cách "công ty" mẹ con chị một đoạn đường. Đó là cháu Nguyễn Duy Hiếu ở đại đội 5, tiểu đoàn 8, trung đoàn 50.

Ca từ của bài ca của mẹ con chị khi chúng tôi đến cứ in đậm trong tôi như một lời tuyên ngôn: "Núi kia dù có cao, sông kia dù có sâu, nhưng sông núi nào ngăn được ta tiến bước" và câu nói của người mẹ có 105 đứa con đồng đội "Tôi chỉ có trái tim và suy nghĩ đơn giản là chia sẻ bớt nỗi đau cho đồng đội".

Bài, ảnh: VŨ ĐẠT