Nhân dân thôn Trung Xuân, xã Nhân Thành, huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An bảo: Người đàn ông tính tình thật lạ! Chiều nào cũng nhìn thấy ông ngồi lặng lẽ một mình trước hiên nhà cổ, vừa như để hứng lấy những tia nắng buổi sáng lại dường như không hẳn như vậy. Cặp mắt sáng nổi bật trên khuôn mặt hốc hác, sạm đen và nhiều nếp nhăn vì gió sương và tuổi tác của ông cứ nhìn đăm đăm về cuối chân trời như đang suy nghĩ về điều gì sâu xa lắm mà phải thật tinh ý tôi mới nhận ra được.

Người đàn ông ấy chính là bố tôi, tên ông là Phan Văn Cường, 59 tuổi, một người lính già trở về từ chiến tranh sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Bố tôi sinh ra trên quê lửa Yên Thành một vùng quê giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Nghệ An. Năm 18 tuổi, với khí thế cách mạng sục sôi và tinh thần yêu nước cháy bỏng, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ rồi chiến đấu ở chiến trường miền Nam thuộc Trung đoàn 126, Binh chủng Đặc công. Đầu năm 1976, sau khi nước nhà được độc lập, thống nhất, vì vết thương quá nặng, ông được xuất ngũ trở về quê hương rồi lập gia đình cho tới nay.

Không hiểu sao từ lúc ở chiến trường trở về, tính tình ông trở nên khác hẳn so với trước. Trước kia ông sôi nổi, nhiệt tình bao nhiêu thì bây giờ lại trầm lặng, ít nói và hay suy tư bấy nhiêu. Nhiều lúc tôi tự hỏi mình rằng liệu đó có phải là căn bệnh hội chứng chiến tranh như người ta thường nói, hay bố tôi bị một chứng bệnh lạ khác?

Tuy nhiên bằng những gì tôi cảm nhận được thì tôi vẫn thiên về khả năng thứ nhất hơn. Phải chăng vì chứng kiến quá nhiều đồng chí, đồng đội của mình hy sinh và tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh hay vì vết thương ở đầu hành hạ ông khiến tâm hồn ông tê dại? Nhiều lúc vết thương cũ tái phát nhất là vào những ngày trái gió trở trời, ông phải vật lộn với những cơn đau ở đầu và trong cơn mê sảng ông không ngớt gọi tên Hà ơi! An ơi! Mạnh ơi!… Những lúc như vậy lòng tôi như thắt lại, tôi thương bố vô cùng, chỉ biết làm tất cả những điều có thể cho ông. Sau những cơn đau quằn quại ấy, người ông trở nên gầy rạc hẳn đi. Tôi vẫn là người bên ông, chăm sóc và trò chuyện với ông. Ông tâm sự rằng: Năm 1968, sau khi nhận được giấy báo tử của bác tôi, theo tiếng gọi của miền Nam ruột thịt, bố tôi nhập ngũ rồi cùng đơn vị vào tận Khe Sanh sau đó đi vào Sài Gòn chiến đấu. Tại đây, ông đã cùng đồng đội tham gia vào những trận đánh lớn có tính chiến lược, đã tận mắt chứng kiến đồng đội mình ngã xuống ngay trước giờ toàn thắng. Kể đến đây giọng ông ứ lại, nước mắt rưng rưng.

Giờ đây tôi mới hiểu rõ, những cái tên mà bố tôi gọi lúc hôn mê là những cái tên của đồng đội của ông đã nằm lại ở chiến trường. Có lẽ những bức “Quyết tâm thư viết bằng máu” kia đã làm tính tình ông đổi khác, nó khiến cho ông trưởng thành hơn và sống có trách nhiệm hơn. Nghĩ lại những lúc ấy, bố tôi thường nhắc chúng tôi: “Bố còn sống sót để trở về hôm nay là may mắn hơn rất nhiều những đồng đội của bố, những người đã ngã xuống trên chiến trường cho đất nước này đời đời độc lập, cho con và các bạn con được cắp sách tới trường. Vì vậy các con đứng bao giờ quên công lao của họ. Tôi nguyện khắc ghi lời dạy của bố đặc biệt là lúc này, khi tôi đã là một kỹ sư lâm nghiệp tôi sẽ giữ mãi màu xanh của những cánh rừng Trường Sơn hùng vĩ, là nơi yên nghỉ của rất nhiều liệt sĩ đã hy sinh trong đó có bác tôi và những đồng đội của bố tôi.

Nhìn vào cặp mắt sáng và hiền từ của ông tôi đã hiểu tất cả. Bố tôi buồn vì những mất mát ông gặp phải trong chiến tranh, buồn vì những đồng đội của ông đã hy sinh mà chưa tìm được hài cốt, buồn vì những thương binh như ông khi trở về đời thường gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên ông cũng đã cố gắng hết mình để nuôi các anh em tôi ăn học trưởng thành. Tận sâu trong tâm khảm mình tôi luôn ghi nhớ những lời dạy của bố tôi, chính người đàn ông ít nói, lầm lì nhưng kiên nghị ấy đã thắp sáng cho tôi, tiếp thêm sức mạnh cho tôi để tôi sống có ý nghĩa hơn trong cuộc đời này. Sau này tôi có gia đình có con, tôi sẽ kể cho con tôi nghe những chiến công thầm lặng nhưng rất phi thường về ông của nó để cho con tôi biết ông cha đời trước đã sống và chiến đấu như thế.

Yên Thành ngày 30-4-2007

PHAN TRUNG KIÊN