Liệt sĩ Nguyễn Phú Tường, sinh năm 1946, quê ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị). Anh là con trai thứ hai trong gia đình có 6 anh em. Mẹ anh là Bà mẹ Việt Nam anh hùng Hà Thị Viễn, có 3 người con là liệt sĩ.

Tuổi thiếu niên, Nguyễn Phú Tường tham gia đội liên lạc trực chiến bảo vệ bờ biển Đồng Hới. Khi Mỹ-ngụy tăng cường hoạt động thám báo, biệt kích xâm nhập bờ biển Quảng Bình, anh cùng lực lượng địa phương tham gia truy bắt biệt kích, phục vụ bộ đội phòng không chiến đấu. Năm 1965, khi chiến tranh ngày càng ác liệt, Nguyễn Phú Tường tình nguyện nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện, anh chiến đấu trong một đơn vị pháo phòng không bảo vệ vùng trời Hà Tĩnh. Những kinh nghiệm có được từ những năm tháng phục vụ chiến đấu ở quê hương giúp người chiến sĩ trẻ nhanh chóng thích nghi với chiến trường. Nhiều lần anh xử lý tình huống trong chiến đấu khiến chỉ huy và đồng đội nể phục.

 Cán bộ, nhân viên Bảo tàng Quân khu 4 đọc thư của liệt sĩ Nguyễn Phú Tường. Ảnh: HOÀNG TRUNG

Ngày 12-10-1965, trong lúc đang ngồi dưới chiến hào chuẩn bị đánh giặc, Nguyễn Phú Tường tranh thủ viết thư về cho mẹ. Trong thư, anh kể với mẹ về nhiệm vụ và tinh thần chiến đấu kiên cường: “Mạ ơi, chưa lúc nào con tự hào bằng lúc này được cầm chắc tay súng thật sự chiến đấu với bọn cướp nước. Hôm qua và hôm kia con hành quân rất mệt đến đây phải sửa sang trận địa, phải thức suốt đêm, ngày cũng như đêm phải tựa lưng vào súng, suốt đêm ngày trời lại mưa, thế mà lập trường con không lung lay, sẵn sàng chấp hành tốt kỷ luật, nội quy chiến trường”.

10 ngày sau, ngày 22-10-1965, Nguyễn Phú Tường tiếp tục viết thư cho chị dâu: “Chị ơi, mùa này nắng mưa thất thường lắm... ở đây ăn chạy nằm đất, dầm mưa, dãi nắng chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ Quân khu giao, mỗi quân nhân đều hăng hái chiến đấu góp phần cho đơn vị chiến thắng quân thù. Em phải dốc hết lực, tận dụng các loại vũ khí kỹ thuật để phục kích bất ngờ tiêu diệt máy bay Mỹ”.

Những dòng thư ấy phản ánh cuộc sống của người lính giữa chiến trường. Qua lời kể giản dị, hình ảnh người chiến sĩ trẻ hiện lên với tinh thần trách nhiệm và ý chí chiến đấu mạnh mẽ. Trong những lá thư của Nguyễn Phú Tường, bên cạnh những dòng viết về chiến đấu còn có những tâm sự về tình quân dân. Những điều bình dị mà người dân dành cho bộ đội đã để lại trong anh sự biết ơn sâu sắc: “Chị ơi, em sẽ phải làm gì đây để đền đáp sự chăm sóc yêu thương của dân, của những người chị hiền hậu nấu cơm cho ăn, có bà mẹ bới cho từng bát khoai khô, đọi nước chè”.

Sau những dòng viết về chiến trường và tình quân dân là hình ảnh một Nguyễn Phú Tường rất đỗi đời thường. Anh nhớ mẹ, thương các em. Dù đang ở chiến trường, anh vẫn canh cánh chuyện học hành, lao động của các em và những lời nhắc nhở của mẹ. Khoảng cách giữa trận địa và quê hương không thể ngăn được tình cảm của người lính trẻ đối với gia đình: “Chị nhớ giúp em điều mà em thường nói trong các lá thư trước, là giúp đỡ các em học tập, làm lụng hằng ngày. Mẹ có hay nhắc nhở nhiều lắm không, nếu có chị báo cho em biết với...”.

Sau những ngày chiến đấu bảo vệ vùng trời Hà Tĩnh, giữa năm 1966, đơn vị Nguyễn Phú Tường được điều vào phía Nam tỉnh Quảng Bình làm nhiệm vụ bảo vệ các trọng điểm giao thông. Tháng 7-1967, trong một trận đánh trả máy bay Mỹ, Nguyễn Phú Tường anh dũng hy sinh. Trước ngày Nguyễn Phú Tường hy sinh, gia đình nhận được hai lá thư cuối cùng của anh. Từ đó, những trang giấy ấy trở thành kỷ vật thiêng liêng của gia đình.

Theo Trung tá Giản Viết Xuân, Phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 4, năm 2007, trong dịp Bảo tàng Quân khu 4 tổ chức Triển lãm chuyên đề “Uống nước nhớ nguồn” nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, hai lá thư của liệt sĩ Nguyễn Phú Tường được đưa vào trưng bày. Ngày ấy, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Hà Thị Viễn được Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình (cũ) đưa ra dự họp mặt. Giữa những hiện vật, kỷ vật được trưng bày, mẹ bất ngờ nhận ra những lá thư của người con trai đã hy sinh. Trung tá Giản Viết Xuân nhớ như in lời mẹ Hà Thị Viễn: “Nghe các chú nói ở Bảo tàng đang trưng bày triển lãm, mẹ xin vô coi, không ngờ thấy hai lá thư của thằng Tường ở đây, mẹ xúc động quá...”.

Trung tá Giản Viết Xuân nói: “Nhắc về người con trai, mẹ Viễn kể: "Thằng Tường trước khi đi bộ đội tuổi cũng bằng mấy cháu. Nó gan lắm, theo dân quân tự vệ địa phương truy bắt biệt kích Mỹ-ngụy vào do thám bờ biển, phục vụ các chú bộ đội phòng không bắn máy bay. Là con thứ hai trong gia đình, rất thương các em và thương mẹ...”.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những trận đánh năm xưa đã lùi vào lịch sử. Nguyễn Phú Tường không trở về, nhưng những dòng thư anh viết vẫn còn đó. Từng trang giấy mỏng manh đã vượt qua thời gian để lưu giữ hình ảnh một người lính trẻ luôn chiến đấu kiên cường, trước gian khổ không nao núng; với nhân dân luôn nặng nghĩa ân tình; với mẹ và các em luôn đầy yêu thương, trách nhiệm. Những lá thư ấy không chỉ là kỷ vật của một gia đình mà còn là những dòng bút tích giản dị mà xúc động về một thế hệ đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trường, để Tổ quốc có ngày hòa bình hôm nay.