Trong số kỷ vật mà tôi còn lưu giữ được từ những năm ở chiến trường thời chống Mỹ, có một tờ giấy gấp tư nay đã ngả màu. Đó là bức thư của cha tôi, đề ngày 11-8-1971 gửi cho tôi...
 |
|
Bộ đội đảo Mê đọc thư nhà. Ảnh: Xuân Dũng |
Trong số kỷ vật mà tôi còn lưu giữ được từ những năm ở chiến trường thời chống Mỹ, có một tờ giấy gấp tư nay đã ngả màu. Đó là bức thư của cha tôi, đề ngày 11-8-1971 gửi cho tôi, lúc đang ở mặt trận Bắc Quảng Trị, còn ông lúc đó đang công tác tại Viện Văn học. Trong thư cha tôi thông tin về tình hình hậu phương, tình hình công tác, học tập và sức khỏe của những người thân trong gia đình. Ông kể: “
Hồi tháng 5, bố cùng mấy chú ở cơ quan có đi Vĩnh Linh và Quảng Bình ba tuần, có đến Vĩnh Sơn, Vĩnh Giang, Ngư Thủy, Cư Nẫm. Có đi mới biết, càng vào Nam càng thấy chiến tranh ác liệt và cũng càng thấy bộ đội và nhân dân ta rất anh hùng”. Rồi ông căn dặn: “
Bộ đội và chiến trường là một trường đại học lớn, con nên cố gắng thi đua cùng đồng chí, đồng đội, học tập Lê Mã Lương và các anh hùng, dũng sĩ khác...”.
Cha tôi đi xa đã hai mươi năm, nhưng giờ đây khi đọc lại bức thư được ông viết và gửi ra mặt trận cho tôi 37 năm trước, tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Và thật kỳ lạ, tôi như được xem lại những thước phim tư liệu quý của một thời – dẫu gian khổ nhưng tràn đầy sức mạnh của niềm tin vào thắng lợi. Ngày ấy, như biết bao ông bố, bà mẹ, cha mẹ tôi đã nén chặt những nhớ thương xa cách để truyền cho chúng tôi niềm lạc quan “Ra đi giữ trọn lời thề/Đánh tan giặc Mỹ mới về quê hương”.
Chiến tranh đã lùi xa 33 năm, song không ít đồng đội của chúng tôi đã ra đi mãi mãi và nhiều người giờ đây còn mang thương tật trên người. Không chỉ may mắn được trở về mà tôi còn có thêm niềm vui là thỉnh thoảng có một số bài báo được đăng trên các ấn phẩm của báo Quân đội nhân dân, viết về những kỷ niệm đẹp của tình đoàn kết quân dân, nghĩa tình đồng chí, đồng đội... một thời quân ngũ. Những ký ức đó sẽ mãi là nguồn động viên, khích lệ những cựu chiến binh chúng tôi giữ vững và phát huy phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.
Lê An Khánh