Năm 1967, vừa tròn 18 tuổi, chàng trai Trần Bá Nên (Quảng Lưu, Quảng Xương, Thanh Hóa) viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, anh được điều về Tiểu đoàn 100, Trung đoàn 546, Sư đoàn 470. Từ năm 1967-1975 anh chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và chiến trường Khe Sanh Quảng Trị. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nên xuất ngũ về quê. Chưa kịp lấy vợ thì anh lại tái ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Anh vào Tiểu đoàn 2, thuộc Sư đoàn 338, chiến đấu ở chiến trường biên giới Tây Nam (tỉnh Tây Ninh) và chiến trường Cam-pu-chia. Những đêm hành quân trong rừng Trường Sơn, cả đơn vị của anh cùng ăn cơm vắt và uống nước suối rừng. Sáng ra, cánh rừng già bàng bạc màu cỏ úa. Dòng suối đêm qua trong vắt, giờ đây đục lờ lờ như nước vo gạo…
Kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam, Nên xuất ngũ về quê với ý định lấy vợ, sinh con, làm ăn như bao trai làng khác. Nhưng sau một trận ốm thập tử nhất sinh, Nên vĩnh viễn không còn nói được. Anh càng tuyệt vọng khi biết mình bị nhiễm chất độc da cam và mất đi khả năng làm bố. Không muốn trở thành gánh nặng cho người khác, Nên từ chối tất cả “lương duyên” do họ hàng mai mối. Anh tình nguyện vào trại trẻ mồ côi tỉnh Thanh Hóa để phụ giúp chăm sóc các em nhỏ. Niềm hạnh phúc khi sống trong tình yêu thương của một “đại gia đình” đã giúp Nên vượt qua thương tật, vơi đi nỗi đau của riêng mình…
Hai mươi năm sau, khi biết tin vẫn còn nhiều đồng đội hy sinh mà chưa tìm thấy mộ, “ông già Nên” từ biệt mái nhà chung bắt đầu hành trình đi tìm đồng đội.
Trở về làng với tài sản là mái tóc pha sương cùng những cơn đau vật vã vì vết thương cũ tái phát, ông Nên sống một mình trong căn nhà tình nghĩa do địa phương xây tặng. Ngôi nhà rộng nhưng không quạnh hiu bởi luôn đầy ắp tiếng cười, nói của họ hàng, bà con làng xóm đến thăm hỏi và chăm sóc ông lúc trái gió trở trời. Ông tâm sự với tôi bằng những dòng chữ viết cẩn thận trên tờ giấy trắng (thứ mà ông luôn mang theo bên mình để “nói chuyện” với mọi người): “Được sống trong sự đùm bọc của bà con làng xóm, tôi không mong muốn gì hơn. Tôi chỉ còn một tâm nguyện cuối cùng: Mang hài cốt đồng đội còn nằm lại chiến trường về với quê hương họ”. Và từ đó đến nay, ông Nên cứ lặng lẽ xuôi những chuyến xe Bắc-Nam để tìm hài cốt đồng đội.
Cho đến giờ, tôi vẫn nhớ mãi gương mặt hiền từ của ông Nên khi gõ cửa nhà tôi, hỏi mua vé xe về Thanh Hóa. Và câu chuyện về cuộc đời, về nghĩa cử cao đẹp của ông đã cho tôi một bài học quý. Tôi tin rằng, hành trình tìm đồng đội của ông sẽ không đơn độc. Bởi linh hồn đồng đội luôn bên ông, tiếp sức, chở che ông…
MAI THẮNG