Đồng chí Trần Quang Thái (người đeo dù, đứng thứ nhất, bên trái) cùng tổ bay trước giờ đi chiến đấu và hy sinh ngày 7-2-1968. Ảnh tư liệu

Lời hẹn của anh với mẹ và tôi còn đó. Mối tình thơ mộng, đầu đời của anh và chị H còn đó. Chị, mẹ và tôi vẫn ngày đêm mong đợi anh hoàn thành nhiệm vụ, trở về mái ấm gia đình, nơi anh đã lớn lên và gửi gắm biết bao kỷ niệm tuổi thơ của mình ở đó. Nhưng, ngày mồng 7-2-1968, anh đã cùng với tổ bay cảm tử trên chiếc máy bay IL14 của không quân ta (nay thuộc đoàn bay 919 anh hùng) vượt vĩ tuyến 17 tham gia cuộc tổng tiến công Mùa Xuân Mậu Thân năm 1968. Và… anh cùng với tổ bay đã hy sinh tại mặt trận Thừa Thiên-Huế!

Năm 1969, mấy tháng sau khi báo tử anh thì cơn bão số 8 với sức gió cấp 7, cấp 8 bất ngờ tràn vào quê tôi. Ngôi nhà tường xiêu, mái dột của mẹ con tôi mà bao năm anh vẫn trăn trở, hẹn với mẹ và em cố đợi anh về để sửa lại, đã bị bão giật đổ hoàn toàn.

Đi làm về đến cổng, tôi đã đứng chết lặng khi thấy ngôi nhà duy nhất của mẹ con tôi, tuy ọp ẹp nhưng chứa đầy kỷ niệm, không còn nữa. Trong hàng nước mắt, nước mưa nhạt nhòa, tôi thấy mẹ đang lúi húi bới nhặt những đồ dùng còn sót lại trong đống đổ nát. Tôi mừng vì mẹ đã thoát hiểm, bởi lúc nhà sập, mẹ đang ngồi bán nước chè xanh ở đầu ngõ. Biết nhà mình không chắc chắn nên khi bão đến, mẹ đã không về nhà mà trú nhờ nhà một người quen gần đấy. Nhưng mẹ con tôi lại ôm nhau khóc, vì nhà đổ rồi biết ở đâu bây giờ? Lấy đâu mái ấm để làm chốn đi về? Ngày ấy, mới qua mấy tháng báo tử anh tôi, nỗi đau còn chưa lắng dịu, nhà lại đổ làm hai mẹ con tôi hoang mang đến tận cùng, tưởng như không sao vượt qua nổi. Nhưng một điều kỳ diệu đã diễn ra như trong chuyện cổ tích, giúp mẹ con tôi gượng dậy. Đó là ngay ngày hôm sau, các cụ bô lão, đoàn viên thanh niên và dân quân địa phương đã tự nguyện đến giúp mẹ con tôi dựng lại ngôi nhà: người mang tre, người mang rạ, người dựng cột, người trát vách… Chỉ mấy hôm sau, mẹ con tôi đã có nhà mới. Ngôi nhà tuy đơn sơ, nhưng ấm áp tình người, đã để lại trong tôi kỷ niệm không bao giờ quên được.

Gần 38 năm sau, biết bao vật đổi sao dời, đất nước đã hòa bình, đang trên đà đổi mới và hội nhập. Bất ngờ, từ một thông tin của người cựu chiến binh ở Hải Phòng vào thăm lại chiến trường xưa, cuối tháng 7-2005, Quân chủng Phòng không-Không quân và đoàn bay 919 đã tìm thấy nơi máy bay rơi và một phần hài cốt của các liệt sĩ trong tổ bay đã hy sinh trong những chuyến bay cảm tử, tham gia vào cuộc tổng tiến công Mùa Xuân Mậu Thân năm 1968 tại vùng núi rừng A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế (trong đó có anh tôi, liệt sĩ Trần Quang Thái). Như vậy, sau gần 38 năm nằm lại nơi núi rừng lạnh lẽo, không hương nhang, không người thăm viếng, cuối tháng 7-2005 vừa qua, các anh đã được đơn vị đưa về làm lễ truy điệu và an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Yên Viên, thành phố Hà Nội.

Hôm đọc được thông tin tìm thấy máy bay rơi và hài cốt liệt sĩ ở A Lưới đăng trên báo, tôi đã tìm đến đoàn bay 919 ở Gia Lâm (Hà Nội). Thật cảm động, khi tôi được các anh lãnh đạo và cán bộ đoàn bay rất nhiệt tình giúp đỡ đưa đi thăm phần mộ các liệt sĩ mới được đơn vị đưa về an táng. Đứng trước hàng mộ mà đơn vị đã chia đều hài cốt từ một ngôi mộ của các liệt sĩ trong tổ bay, được đồng bào Pa Cô gom nhặt những phần thi thể còn lại, mai táng thành ngôi mộ tập thể ở giữa rừng A Lưới cách đây gần 38 năm về trước, mà đơn vị mới khai quật đưa về, tôi không sao giữ nổi bình tĩnh bởi hàng mộ thẳng tắp không có tên riêng, mà chỉ có tên chung: “Liệt sĩ: Phi công nhân dân Việt Nam hy sinh trong cuộc tổng tiến công Mùa Xuân Mậu Thân năm 1968!”. Tôi bỗng bật lên tiếng khóc và gọi tên anh: “Anh Thái ơi! Anh ở đâu trong những ngôi mộ này? Hay là tất cả”.

Ôi! Những chàng trai đang phơi phới tuổi xuân, tràn đầy sức sống với biết bao niềm tin và hy vọng, vậy mà các anh vẫn sẵn sàng hy sinh, thịt nát, xương tan, hòa vào cát bụi. Lời hứa và hình ảnh thân thương của anh trong quá khứ phút chốc cứ lần lượt hiện về. Tôi thấy lòng mình đau quặn, tôi xoa tay lên từng ngôi mộ để lay gọi anh, để báo tin với anh rằng: “Anh ơi! Sau bao năm mòn mỏi trông chờ anh trong vô vọng, ngày mồng 6-2-1992 mẹ kính yêu của anh em mình đã ra đi về cõi vĩnh hằng, mang theo bao nỗi nhớ thương chồng con vào trong lòng đất. Anh hãy tìm gặp mẹ ở nơi thế giới bên kia anh nhé! Còn em, em đã có chồng, có con. Chồng em cũng là một thương binh anh ạ!”.

Cũng thời gian này, sau 51 năm, 3 tháng, 24 ngày cha tôi hy sinh trong khi làm nhiệm vụ phục vụ mặt trận Điện Biên Phủ, ngày mùng 4-7-2005 Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ký quyết định suy tôn liệt sĩ cho Trần Năng Đoán (cha tôi). Trong buổi lễ truy điệu, suy tôn liệt sĩ tổ chức long trọng tại địa phương ngày mùng 1-11-2005, đông đảo bà con khu phố, các ban, ngành, đoàn thể và đồng đội của cha tôi còn sống đã về dự. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nay thắt vành khăn trắng lên đầu với danh nghĩa là con liệt sĩ trong buổi lễ truy điệu cha, tôi không sao cầm được nước mắt vì trong giây phút thiêng liêng này, mẹ tôi, anh tôi, những người đã chịu bao mất mát, thiệt thòi vì mất chồng, mất cha, đã thắt lưng buộc bụng cùng cả dân tộc đi suốt chiều dài hai cuộc kháng chiến, nhưng bây giờ đều không còn nữa. Không biết ở cõi vĩnh hằng, nơi thế giới bên kia, cha mẹ và anh có biết được trên thế gian này tôi đang xúc động và tự hào biết bao trong giây phút trọng đại này không? Hơn nửa thế kỷ sau, sự hy sinh của cha tôi đã được Đảng và nhân dân ghi nhận, gửi gắm trong tấm bằng “Tổ quốc ghi công”.

Với tôi, dẫu là phận gái, nay đã ở tuổi về già, tuy còn khó khăn, nhưng tôi luôn hứa với lòng mình sẽ làm tròn bổn phận tâm linh với cha mẹ và anh nơi chín suối!

Thực đau buồn, nhưng hằng năm cứ đến ngày tết, ngày lễ tôi lại thấy lòng mình ấm lại khi nhận được những bức thiệp chúc tết, những lá thư của đồng đội anh tôi từ các nơi gửi về động viên, chia sẻ với thân nhân gia đình liệt sĩ. Mùa xuân năm 2002, ông Đặng Nhơn, ông Bùi Duy Trinh, ông Hồ Sỹ Tấn, ông Hứa Văn Thường… đồng đội cũ của anh tôi ở Thủ đô Hà Nội nguyên là thủ trưởng, là cán bộ phòng tham mưu, phòng tác chiến Đoàn B05 khi xưa, được sự giúp đỡ của Cục chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân đã lên thăm gia đình và thắp hương viếng anh tôi tại đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ địa phương thị trấn Bố Hạ. Trước anh linh liệt sĩ, các ông đã không cầm nổi nước mắt khi nhắc lại những kỷ niệm về anh, về sự chia ly người mất, người còn trong ngày toàn thắng và chúc anh an giấc ngàn thu.

Đặc biệt, tôi vô cùng xúc động khi lá thư của ông Dương Tuấn Kiệt, nguyên Đại tá quân đội về hưu ở Hòa Vang (Đà Nẵng) đồng đội cũ của anh tôi trong thư gửi gia đình cuối năm 2006 ông đã viết:

“… Mẹ anh Thái chưa được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sự hy sinh của mẹ đẹp lắm, anh hùng lắm. Từ phương xa, cho tôi được thắp nén hương lòng để tưởng nhớ và kính dâng lên mẹ, dâng lên hương hồn hai cha con liệt sĩ Trần Quang Thái…”.

Cảm ơn ông Dương Tuấn Kiệt, cảm ơn tất cả bạn bè, đồng đội của hai cha con, hai liệt sĩ trong hai cuộc kháng chiến đã cho tôi những tình cảm, những lời động viên và sự sẻ chia vô cùng quý giá, giúp tôi có thêm niềm tin để nhận biết rằng cuộc đời này vẫn còn nhiều tấm lòng đẹp lắm và cho tôi nghị lực để tiếp tục sống sao cho xứng đáng với truyền thống một gia đình cách mạng và càng thấu hiểu hơn về nghĩa tình đồng đội, tình người, dẫu trong hoàn cảnh nào vẫn luôn sáng ngời đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.

TRẦN THỊ MÂY LAI