Anh Nguyễn Văn Lâm kể lại:
- Từ hôm sau, bố tôi bắt đầu cuộc hành trình đi tìm anh Cẩm. Bố bỏ bê việc nhà đi gõ cửa các manh mối mong có tin phong thanh về anh trai nhưng mọi công sức bố tôi bỏ ra đều vô vọng. Có lẽ vì hết hy vọng tìm thấy mà ông đổ bệnh, nằm liệt giường. Trước khi mất, ông gọi mẹ và chúng tôi lại gần, trăng trối: “Tôi đi trước bà rồi”. Rồi ông nắm chặt tay tôi nước mắt rỉ ra từ kẽ mắt sâu: “Giờ chỉ còn con là trụ cột trong nhà, hãy thay bố gánh vác gia đình và cố gắng tìm mộ của anh Cẩm về con nhé!”.
Năm 2003, anh Đào Văn Cường, hiện đang làm ở nông trường chè Trần Phú, Văn Chấn, Yên Bái, về thăm quê. Ôn lại chuyện chiến đấu năm xưa với anh Nguyễn Hữu Tấn, anh Cường kể chuyện anh cùng chị Chanh băng bó, cấp cứu và mai táng anh Cẩm.
Vui mừng, anh Tấn nhấc điện thoại báo ngay về gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Cẩm. Nhận được tin, hôm sau, anh Lâm và anh Thảnh - một người bạn đồng ngũ của liệt sĩ Cẩm cũng là đồng ngũ của Cường lên ngay Yên Bái. Nhưng đến nơi không ai biết cụ thể chỗ anh Cường ở. Phải mất hàng chục cuộc điện thoại nữa họ mới tìm được nhau. Khi nhìn thấy anh Cường, anh Thảnh đấm thùm thụp vào lưng bạn, nước mắt ròng ròng… Rồi họ ôm nhau khóc.
Như một dòng kí ức chảy về quá khứ, anh Cường chậm rãi:
- Loạt bom B52 thứ 16 vừa dứt, anh em ở ban hậu cần trung đoàn tỏa nhau đi tìm để cứu chữa đồng đội và nhân dân. Trên đường mình thấy một người phụ nữ đang loay hoay băng bó cho một thương binh. Mình xắn tay vào giúp. Hỏi mới biết người y tá ấy là chị Hoàng Thị Chanh, ở trạm phẫu tiền phương đang đóng ở đây. Bị mất quá nhiều máu, Cẩm đã hy sinh vào 4 giờ sáng ngày 19-6-1972.
Ngay ngày hôm sau, hai anh em Lâm, Cường khăn gói lên đường vào Quảng Trị gặp chị Chanh. Anh Lâm kể lại:
- Vào đến nơi thấy Cường, chị Chanh xúc động không nói nên lời dù đã được em báo trước bằng điện thoại. Chị nói trong nước mắt: "Hơn 30 năm nay gia đình chị và bà con ở thôn đã chăm sóc phần mộ anh Cẩm. Đến hôm nay, em đã vào đây là điều mà mạ và chị đã từng mong mỏi".
Anh Lâm tiếp:
- Khi đến thăm phần mộ của anh Cẩm, em đã không kìm nổi lòng mình trước tấm lòng chân tình của gia đình chị Chanh và bà con nơi đây. Bởi thế mà khi về quê báo tin ấy cho gia đình ai cũng đồng ý để lại phần mộ của anh ở nơi ấy. Các anh đã hy sinh vì Tổ quốc, thì nơi đâu cũng là mảnh đất ruột thịt, nơi đâu cũng là quê hương!
|
5. Hòa bình lập lại đã hơn 30 năm, ngôi mộ của người chiến sĩ trẻ, quê ở tận đất Bắc xa xôi, còn đó. Khóm cúc khuy áo trồng trên mộ vẫn vàng hoa mỗi độ thu về, vẫn có nén nhang thơm vào ngày rằm, mồng một, mâm oản, nải chuối vào dịp lễ tết, do mẹ Mao, chị Chanh và dân làng mang đến. Trong tâm tưởng, đã từ lâu, mẹ coi anh bộ đội nằm dưới cồn cát bìa làng như là con của mẹ. Những ngày giỗ chồng, giỗ con, trước bàn thờ, mẹ Mao khấn thầm: “Hôm nay là ngày giỗ cha, giỗ anh, mạ coi mi như thằng Thành con mạ. Vong hồn mi sống khôn chết thiêng thì về để gặp cha, gặp anh”.
Mẹ Mao dứt ruột đẻ được 3 mụn con, chị cả đã yên bề gia thất, anh Thành thì hy sinh, chị Chanh không hiểu sao không lập gia đình? Mặc dù thời trẻ chị cũng là cô gái có hương, có sắc ở cái làng nhỏ bé này. Nhiều đêm nằm cạnh con gái, mẹ Mao khuyên chị lấy chồng, im lặng, đôi lúc chị gắt lên, thấy thế mẹ lại thôi. |
6. Nhân dịp ngày họp mặt đồng ngũ hằng năm, đồng chí Nguyễn Đức Khiển, hiện là Thiếu tướng Chính ủy Binh chủng Tăng - Thiết giáp đến thăm mẹ Bảy. Những hồi ức của mẹ Bảy trong hàng nước mắt về người con đã hy sinh, anh như đọc được tâm nguyện của mẹ muốn đưa phần mộ của Cẩm về.
Anh thưa với mẹ:
- Cũng nhân dịp tết Đinh Hợi, đơn vị chúng con vào Quảng Nam làm công tác chính sách. Xin phép mẹ, con đưa phần mộ của Cẩm về quê mình.
Nghe đến đây, mẹ Bảy ngẩng lên, hai tay mẹ loạng choạng, run bần bật… những giọt nước mắt hiếm hoi còn đọng nơi khoé mắt trũng sâu lăn dài trên gò má. Ánh mắt của mẹ bỗng như cười, như hàm ơn. Mẹ ấp hai bàn tay run rẩy của mẹ vào tay anh Khiển lắc lắc mà không nói nên lời…
Ngày 31-1-2007, anh Nguyễn Văn Lâm cùng đi với anh Nguyễn Ngọc Hoà (Trưởng ban Chính sách Binh chủng Tăng - Thiết giáp) và lái xe Trần Xuân Ly vào Quảng Nam. Khi đến thị xã Quảng Trị, anh Lâm vào thẳng bệnh viện Đông Hà thăm chị Chanh đang nằm điều trị bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối. Nhìn thấy anh Lâm, đôi mắt chị ngấn nước. Rồi khi anh Lâm nói vào đưa phần mộ anh Cẩm về quê. Chị lặng đi… khóc!
Khoảng lặng của những giọt nước mắt ấy, hơn ai hết anh Lâm thấu hiểu. Bởi đã hơn 30 năm, chị Chanh đã hương khói, coi phần mộ của anh Cẩm như một phần ruột thịt của gia đình. Chờ cho nỗi xúc động ấy dịu xuống, anh Lâm nhỏ nhẹ tâm sự với chị về nguyện vọng của mẹ Bảy. Nghe xong, chị chỉ im lặng gật đầu.
Xe về nhà, mẹ Mao chống gậy ra cổng, mời khách vào nhà. Uống xong bát nước chè xanh, nghe người khách từ tốn trình bày, mẹ Mao biết rằng cái anh dong dỏng cao thư sinh, ngồi bên là em ruột của Cẩm… Hiểu ra, người mẹ như cứng lại, nước mắt giàn giụa trên gương mặt da đã nhăn như quả táo khô. Mẹ chạnh lòng: "Thế là thằng bé đã thấy người thân! Cũng mừng cho nó. Nhưng… còn thằng Thành của mạ?”.
Mẹ Mao tin rằng, người mẹ ở ngoài Bắc kia, hơn 30 năm đã khóc kiệt nước mắt, khắc khoải từng ngày chờ con giống như mẹ mong anh Thành vậy, mặc dù hình hài những đứa con ấy chỉ còn tồn tại trong trái tim mà thôi. "Giá mà thằng Thành cũng được về với mạ". Mẹ cầu mong.
Chiếc xe đưa hài cốt liệt sĩ Cẩm về đến chân cầu Yên Lệnh đã thấy đông đảo bà con, họ mạc, đồng đội đứng chờ. Chiếc xe chầm chậm chạy trong thị xã Hưng Yên, vòng qua Quảng trường rực sáng ánh điện.
Đêm ấy, khi đưa hài cốt liệt sĩ Cẩm về nghĩa trang liệt sĩ xã, trong tiếng kèn đưa tiễn của đồng đội, bà con, cũng là lúc ở bệnh viện Đông Hà, chị Chanh trút hơi thở cuối cùng vào lúc 4 giờ sáng. Và cũng đúng vào thời khắc ấy cách 35 năm anh Cẩm hy sinh…!
Ở nghĩa trang liệt sĩ xã Trung Nghĩa, dòng người từ từ vào viếng anh. Mỗi nén nhang thắp lên là sự chia sẻ nỗi đau với gia đình, là sự rộng mở nơi đất mẹ đón anh vào lòng. Có cả những tiếng khóc giọng đã khản đi của những người mẹ, người vợ liệt sĩ chưa tìm thấy mộ con, mộ chồng. Nhiều người đi qua đường dừng lại ngả mũ.
Sau lễ tiễn đưa anh Cẩm, gia đình có chuyến xe "tốc hành" vào Quảng Trị cùng hai vòng hoa mang dòng chữ: "Gia đình và những người lính xe tăng vĩnh biệt chị Hoàng Thị Chanh".
7. Ở giữa làng An Chú, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị ngôi nhà tình nghĩa nhỏ do xã xây tặng mẹ liệt sĩ Hoàng Thị Mao hôm nay chỉ còn lại mình mẹ. Trên bàn thờ lại có thêm bát nhang thứ ba mà chân nhang vẫn còn thưa. Đứa con hằng ngày, chăm cho mẹ từng miếng cơm, mặc thêm cho mẹ chiếc áo mỗi khi trời lạnh, nay đã không còn.
95 tuổi, lúc nhớ, lúc quên. Biết bao sự kiện đã đi qua trong đời mẹ từ thời còn nhỏ như nắm cơm đến bây giờ, lưng mẹ đã còng rạp xuống gần mặt đất. Những ngày trái gió trở giời, tai mẹ ù đặc như nghe được những tiếng bom B52, tiếng hú của pháo đàn, pháo đất, nhưng mẹ vẫn nhớ cái hôm nghe tin con trai thứ hai Hoàng Công Thành hy sinh ở tận Đồng Nai, mẹ đã không còn nước mắt để khóc. Mẹ ngồi trước ngôi nhà nửa nổi, nửa chìm lợp bằng cành phi lao, lặng đi, mắt nhìn mà chẳng thấy gì ở phía trước.
Thương cái Chanh, con gái út của mẹ những ngày trận mạc thì “đi tối ngày sáng đêm" để cấp cứu thương binh, dẫn bộ đội vào thành cổ Quảng Trị, cùng với du kích xã đêm đêm đi phục kích chặn địch trong cái năm 1972 ác liệt, khi mà đất địch, đất ta còn loang lổ như tấm da báo. Có biết bao nhiêu anh bộ đội nói giọng Bắc đã đến ở nhà mẹ. Có anh chưa kịp uống xong gáo nước mưa, đã vội vã lên đường; có chiến sĩ hôm trước còn vui đùa ca hát, kể cho mẹ chuyện Tháp Rùa ở Hà Nội; chuyện động Hương Tích ở Hà Tây đến hôm sau đã hy sinh. Đến khi hòa bình thì "tuổi xuân đi rồi" chẳng lấy lại được…
Nhưng mẹ Mao nhớ nhất cái đêm 19-6-1972, bầu trời thôn An Chú giống như thủa hồng hoang, ngập trong lửa đạn của máy bay, tàu chiến, xe tăng địch. 4 giờ sáng, khi im tiếng súng, chị Chanh chạy vào khóc nấc lên:
- Mạ ơi, anh ấy chết rồi, bị đứt động mạch đùi, giá mà biết trước thì cứu được. Anh nớ cũng bằng tuổi anh Thành nhà mình.
Đốt một bó nhang, chị Chanh lặng lẽ kéo mẹ ra khỏi nhà đi đến bìa làng, nơi gò cát cao mà dân làng dùng làm nghĩa địa mỗi khi có người nằm xuống. Cắm bó nhang lên ngôi mộ mới, chị lẩm nhẩm một hồi rồi nói với mẹ:
- Mạ không biết anh Thành nằm đâu, cũng như mạ của anh bộ đội nằm dưới lòng đất quê mình. Hôm nay, mạ cho con chăm sóc phần mộ vong linh anh chiến sĩ trẻ bớt phần lạnh lẽo. Con tin rằng ở một phương trời xa và rất xa nào đó, nơi anh Thành đang nằm cũng có những người mạ, người chị, người em như mạ con mình.
Vĩ thanh
Là người lính cầm súng chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, trong những năm chống Mỹ, đã được các mẹ, các chị nuôi giấu, chăm sóc khi bị thương lạc đơn vị, sau ngày đất nước thống nhất, tôi đã đến viếng nghĩa trang Trường Sơn đi dọc dòng Thạch Hãn, chứng kiến buổi thả hoa viếng các linh hồn liệt sĩ trên sông. Cũng trong năm nay có dịp qua thôn An Chú, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, tôi đến thăm gia đình mẹ Hoàng Thị Mao, thắp nén nhang, trồng một khóm cúc vàng trên ngôi mộ còn mới của người con gái đã chăm sóc phần mộ đồng đội tôi suốt hơn 30 năm trời. Đi qua cầu Bến Đá, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, tôi gặp ông Lê Dân, người đã hiến hàng trăm mét vuông đất để xây tượng đài những chiến sĩ xe tăng đã hy sinh ở đây. Ông tình nguyện trở thành người chăm sóc và trông coi di tích. Được đắm mình trong sự thương yêu, đùm bọc, bao dung của những ông bố, bà mẹ, các chị, các anh và đồng đội của tôi đang cùng chính quyền và nhân dân Quảng Trị xây dựng lại mảnh đất một thời đầy lửa đạn này. Tôi hiểu rằng, trong cuộc đời một con người có nhiều thứ mất đi nhưng tình đồng đội, lòng tin yêu của nhân dân với Bộ đội Cụ Hồ thì sẽ còn mãi mãi.
Bài và ảnh: VŨ ĐẠT - HỒNG VÂN