Chồng là thương binh hạng 1/4, tỷ lệ mất sức 81%. Vợ là thương binh hạng 2/4, tỷ lệ mất sức 61%. Nhưng thương tật đã không ngăn nổi ý chí vươn lên làm giàu và làm từ thiện của đôi vợ chồng thương binh ấy.
Vừa giận, vừa thương
Chuyện tình của anh chị cứ như trong mơ, khó tin mà thật. Khi kể, thỉnh thoảng mắt chị lại rơm rớm, nước mắt không chảy ra nhưng nếu có, chúng tôi nghĩ đó là những giọt nước mắt hạnh phúc. Vâng! Chị hạnh phúc bên người chồng thương binh nặng hạng 1/4, anh Phạm Văn Bạch.
Chị sinh ra và lớn lên trên vùng đất Sơn Tân (Quế Sơn, Quảng Nam) trong một gia đình cách mạng, có cha là liệt sĩ. 16 tuổi, chị đã tham gia du kích, một năm sau chị xin vào bộ đội huyện nhà, chiến đấu không thua kém gì con trai. 18 tuổi, chị vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Năm 1972, chị bị thương và được đưa ra miền Bắc điều trị tại Đoàn 583 (Ninh Bình).
Anh sinh ra nơi miệt vườn phương Nam (xã Bình Phú, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang), nhập ngũ năm 1963 và chiến đấu trong đội hình Trung đoàn Bình Giã, Sư đoàn 9. Năm 1967, anh bị thương và được đưa ra miền Bắc điều trị ở đoàn 580, tại tỉnh Nam Hà. Anh kể: "Tụi tui quen nhau trong bệnh viện 109 ở tỉnh Vĩnh Phúc. Cùng cảnh ngộ nên chúng tôi thương nhau nhiều lắm. Thương nhiều, nên lắm nỗi lo. Chồng tàn, vợ tật rồi biết mần ăn sao đây? Lo thì cứ lo nhưng cưới thì vẫn cưới". Chị nhìn anh âu yếm, góp lời: "Lễ cưới được ấn định vào ngày 30-4-1975, không ngờ đó là ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Lễ cưới được tổ chức vào buổi trưa, tối hôm đó anh đã vội vã tìm đường về quê. Vậy là tụi tui bặt tin luôn. Hai năm trôi qua là cả một trời nhớ thương, chờ mong mòn mỏi. Anh bây giờ ở đâu? Đang làm gì? Cứ nghĩ anh đã về quê cưới vợ khác, nhưng tui vẫn khăn gói lên đường tìm chồng. Không ngờ thương tật nặng là vậy, anh vẫn xin tham gia công tác tại phòng Chính trị, tỉnh đội Gò Công và… chưa cưới thêm bà nào khác. Cái lý do anh đưa ra vừa giận, vừa thương: "Anh cứ nghĩ thời gian và sự xa cách sẽ làm em nguôi ngoai chớ dính vào anh, em sẽ khổ một đời. Thương em nên anh không nỡ nhìn thấy em phải vất vả vì anh". Thì ra, anh cố tình lao vào công tác cũng chính là để quên đi nỗi niềm thương nhớ tui. Chồng ơi là chồng! Một ngày cũng đã nên tình nên nghĩa, làm sao mình có thể xa nhau được". Kể đến đây mới thấy chị cười.
Vươn lên từ hai bàn tay trắng
Giọng chị vẫn đều đều: “Gia đình nghèo, đều đi làm thuê cuốc mướn quanh năm. Hai vợ chồng ra ở riêng không một đồng vốn, trong căn chòi nhỏ, trống hoác, chồng khập khễnh cho heo ăn, vợ cặm cụi bán khoai lang luộc, kiếm ăn từng ngày, bữa no bữa đói. Cũng may, vợ chồng tui được chia 1,8 công ruộng (mỗi công 1.000m2), chính quyền xã thấy hoàn cảnh khó khăn nên xét cấp thêm cho 3 công nữa. Đất gò nhiễm mặn, lúa mỗi năm làm một vụ, cái đói cái nghèo vẫn rình rập, bủa giăng. Dành dụm, chắt bóp mãi, đến năm 1992, vợ chồng tui mới quyết định chuyển nghề, vì sức khỏe của cả hai người không thể bám mãi vào vườn ruộng được”.
Vay mượn thêm của bạn bè, vợ chồng chị mở một nhà máy xay lúa nhỏ, công suất 7 tấn/ngày, với tổng số vốn ban đầu 40 triệu đồng. Ba năm sau, nhờ chịu thương chịu khó, làm ăn có hiệu quả, chị nâng cấp nhà máy lên công suất 22 tấn/ngày, với tổng số vốn đầu tư lên đến 120 triệu đồng.
Chương trình ngọt hóa Gò Công mở ra một tiềm năng mới, cùng với các tiến bộ về KHKT được ứng dụng rộng rãi, vừa đưa năng suất, chất lượng lúa tăng cao, vừa cấy được 3 vụ lúa mỗi năm. Để đáp ứng với nhu cầu của thị trường gạo xuất khẩu, chị quyết định nâng cấp nhà máy lên quy mô lớn hơn, hiện đại hơn. Năm 1999, nhà máy xay lúa công suất 30 tấn/ngày với tổng số vốn đầu tư 300 triệu đồng của chị chính thức đi vào hoạt động. Không chỉ xây dựng nhà máy xay, chị còn lắp đặt thêm lò sấy lúa. Tháng 9-2002, chị được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chọn làm điểm lắp đặt thí điểm một lò sấy quy mô lớn với chính sách ưu đãi cho gia đình cả hai vợ chồng là thương binh. Đây là lò sấy lúa thí điểm đầu tiên tại tỉnh Tiền Giang, với công suất 16 tấn/ngày không phải đảo lộn. Ưu điểm của lò là sấy hai chiều, sấy dưới xong đậy nắp chuyển lên sấy trên, nên tiết kiệm được rất nhiều chi phí nhân công. Tổng chi phí của lò sấy lên đến 92 triệu đồng, trong đó gia đình bỏ ra 70 triệu đồng mua vật tư, trang thiết bị, còn 22 triệu đồng chi phí lắp đặt, thiết kế, nhân công, chị được tỉnh hỗ trợ.
Từ hai bàn tay trắng, nhưng nhờ biết tính toán, chịu thương, chịu khó và cần kiệm tích lũy, đến nay vợ chồng chị đã có một cơ sở sấy, xát lúa khá hoàn chỉnh, mức thu nhập hằng năm đạt khoảng 100 triệu đồng. Ngoài nhà xưởng, vợ chồng chị còn xây được nhà cửa khang trang, mua sắm đầy đủ các tiện nghi sinh hoạt, lo cho các con ăn học thành đạt và tạo công ăn việc làm cho hàng chục người, với mức thu nhập hằng tháng từ 1,5 đến 2 triệu đồng. Điều đáng quý nữa, không chỉ tính toán làm việc giỏi, anh chị còn giàu lòng nhân ái, thường xuyên đóng góp tiền và gạo vào Quỹ “Vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng trường học, cứu trợ bà con các vùng bị thiên tai, bão lụt.
Với thành tích trong sản xuất kinh doanh và làm công tác từ thiện, vợ chồng chị đã được UBND huyện Gò Công Tây và tỉnh Tiền Giang tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Chị còn vinh dự được đi dự Hội nghị tổng kết phong trào: "Giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp" được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội vào tháng 6-2007. Người nữ thương binh ấy là chị Nguyễn Thị Hồng Thu, chủ nhà máy xay xát lúa ở ấp Bình Khánh, xã Bình Phú, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
Viết Hương-Xuân Đoàn