Quê tôi, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, mỗi xã có hàng trăm người con thân yêu đã hy sinh anh dũng vì Tổ quốc. Đến nay, nhiều người vẫn chưa tìm được phần mộ. Còn những liệt sĩ đã tìm được phần mộ thường gắn liền với tình đồng đội thiêng liêng và sự giúp đỡ đầy ân nghĩa của nhân dân nơi các anh ngã xuống. Nhiều câu chuyện về tìm mộ xúc động đến nghẹn lời…
30 năm nước mắt chảy vào trong
Vợ chồng ông Lê Thế Dần và Lê Thị Tánh ở xóm Trường Quý (xã Xuân Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), sinh được hai người con, một trai, một gái. Năm 1969, người con trai là anh Lê Thế Chắt tình nguyện nhập ngũ. Ngày tiễn con lên đường, bà Tánh cố ghìm nước mắt, những mong ngày hết giặc con sẽ trở về. Sáu năm đằng đẵng mong con, ngày toàn thắng, trong niềm vui của cả dân tộc, thật đau đớn, ông bà nhận được tin con trai hy sinh. Một năm sau ngày nhận được giấy báo tử của con, ông Dần lâm bạo bệnh rồi từ giã bà mà đi. Ngôi nhà tranh chỉ còn hai người đàn bà con gái, trống huơ, trống hoác. Căn bệnh đau tim cũng đến với bà từ ấy.
Nỗi đau mất mát làm bà tiều tụy. Từ năm 2000, bước sang tuổi 80, những khi cơn đau tim ập đến, nằm trên giường bệnh nửa tỉnh, nửa mê, cứ thấy ai mặc quần áo bộ đội vào nhà mình là bà cố gượng dậy, quờ quạng hai tay, miệng lắp bắp cái câu xé ruột: “Chắt về với mệ đó hở con? Chắt ơi!”. Không ít lần đang đêm thức giấc, bà lập cập gọi con gái dậy, thảng thốt: "Lan ơi, anh con về đó. Nó đứng ngay đầu giường mệ đây này! Nó nói với mệ mà răng nghe như tiếng vọng từ nơi mô xa lắm: “Mệ ơi, răng mệ không đi tìm con? Rồi nó đi đâu mất hút”. Những lúc tỉnh táo, vừa trễ nải nhai trầu, bà vừa thủ thỉ với con gái mà nghe như lời trăng trối: “Anh con nằm ở nơi mô, con cũng cố tìm về cho mệ. Nỏ biết nơi chân trời, góc bể đó, anh con có được yên phần mộ không? Người sống có nhà, có cửa; người chết cũng rứa thôi, cũng phải có mả, có mồ, tức thị cái nhà để mà hôm sớm đi về. Chưa tìm được mộ anh con, có chết mệ cũng mần răng mà nhắm nổi mắt!”.
Bà lại sụt sịt khóc. Chị Lan chỉ biết ôm lấy mẹ nức nở. Trong giấy báo tử chỉ vẻn vẹn dòng chữ: “Đồng chí Lê Thế Chắt đã anh dũng hy sinh ở mặt trận phía Nam”. Phía Nam! Phía Nam rộng dài, mênh mông thế, biết anh mình nằm lại nơi nào? Nhiều phen chị đã cất công đi tìm hỏi khắp nơi, nhưng trong huyện, trong tỉnh, chẳng tìm được ai là đồng đội cùng đơn vị anh Chắt.
Lá thư ân nghĩa
Chiều ngày 11-1-2003, bà Tánh đang ngồi một mình đau đáu nhìn về phía trời nam xa vời vợi. Đã có bao buổi chiều bà cứ ngồi như thế, đôi mắt già nua bất động. Ai cũng biết bà đang ngóng trông con trai, nhưng chẳng ai nỡ hỏi vì sợ chạm vào cõi thiêng lòng bà. Nhập nhoạng tối, anh Viên, Chánh văn phòng UBND xã bước vào nhà đưa cho bà một bức thư gửi ra từ thành phố Hồ Chí Minh. Tên người gửi hoàn toàn xa lạ. Phong bì không ghi tên bà, mà viết: “Kính gởi UBND xã Xuân Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nhờ quý Ủy ban kính chuyển đến gia đình liệt sĩ Lê Thế Chắt, sinh năm 1949, nhập ngũ năm 1969, hy sinh ngày 7-4-1972. Quê quán: Xã Xuân Trường, Nghi Xuân, Hà Tĩnh”. Bà Tánh chân tay run lẩy bẩy trao thư cho con gái. Chị Lan luống cuống trao lại cho bà. Bà Tánh lập bập không ra lời: “Bóc… thư… đi con! Anh… con… về đó!”. Anh Viên thấy thế, giúp chị Lan bóc lá thư ra. Nét chữ trong thư nắn nót: “Kính thưa ba, má, cháu xin gọi thế là bởi nhìn trên mộ chí thấy anh Chắt khi hy sinh, tuổi còn trẻ quá, nên chắc còn có ba, có má. Hôm rồi, cháu vô tìm mộ anh trai ở nghĩa trang liệt sĩ Lộc Ninh, cháu thấy có nhiều liệt sĩ quê Hà Tĩnh. Mà Hà Tĩnh thì cách Lộc Ninh xa lắm, cháu biết rất xa. Cháu nghĩ chắc ba má mấy anh chưa vô được đến đây để biết có mộ con em mình. Cháu cũng có anh trai là liệt sĩ chống Mỹ nên cháu hiểu chắc ba má mấy anh ở ngoài đó đang ngày đêm mỏi mòn trông đợi, kiếm tìm như ba má cháu ngày nào. Vì thế, cháu ghi tất cả tên các liệt sĩ quê Hà Tĩnh, gồm 15 người gửi ra từng xã. Đã có 11 gia đình vào đưa được phần mộ mấy anh về ngoài đó. Nếu ba má nhận được thư cháu, nhận ra thân nhân của mình, xin hồi âm cho cháu và xin các ba, các má có đi tìm mộ, cứ vô thẳng nhà cháu theo địa chỉ: Nguyễn Thị Kim Yến, C14/19, ấp 3, Tân Kiên, quận Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Cháu xin được đưa rước các ba, các má tới nơi có phần mộ mấy anh! Ba má ạ, cháu làm thế là bởi cháu nghĩ mình cũng là em gái của mấy anh, như con của ba má. Con chỉ mong góp được chút đỉnh tấm lòng mình để vơi đi nỗi đau của các ba, các má!”.
Bà con xóm giềng nghe bà Tánh có tin về anh Chắt, chạy đến chật cả nhà. Dân quê vốn nghèo, nhưng lòng ai cũng rộng. Họ bàn nhau kẻ ít, người nhiều góp lại, giúp chị Lan vào Nam tìm mộ anh Chắt. Hai mẹ con cầm đồng tiền mọi người trao cho, nghẹn ngào không nói nên lời…!
Lòng người phương Nam
Ngay ngày hôm sau, chị Lan cùng con trai lên đường đi tìm mộ anh Chắt. Vào tới nhà chị Yến, chị Lan càng xúc động khi thấy cả nhà chị Yến tiếp mình như người thân đi xa về. Biết mẹ con chị Lan đã vượt hơn nghìn cây số tàu xe, chị Yến giữ chị Lan lại nghỉ ngơi, mua sắm hoa quả, đèn nhang cho chị mang lên mộ anh Chắt. Sáng hôm sau, chị Yến xin nghỉ việc ở nhà máy, cùng mẹ con chị Lan thuê xe đò lên thẳng nghĩa trang liệt sĩ Lộc Ninh. Đây là một nghĩa trang lớn, chia làm 7 khu từ A1 đến A7, trùng trùng những bia mộ. Có chị Yến dẫn đường, chị Lan tìm ngay được mộ anh Chắt nằm ở khu A3. Chị nhào đến, quỳ sụp xuống ôm choàng lấy mộ anh trai mình. Lóng ngóng cắm nén nhang từ tay chị Yến trao mà phải 2-3 lần chị Lan mới cắm nổi lên mộ. Tiếng chị vỡ òa:
- Hơn 30 năm rồi, anh ơi! Hơn 30 năm không ngày nào, đêm nào mẹ không gọi tên anh. Mẹ chúng mình đã già yếu lắm rồi mà vẫn gắng sống đợi anh “về” đó. Anh ơi…!
Chị Yến cũng rưng rưng nước mắt, lặng lẽ quỳ xuống đặt bó hoa cúc vàng như màu nắng phương Nam lên mộ anh Chắt. Gió tràn xuống từ những cánh rừng phía Đông mơn man vuốt ve từng cánh vàng hoa cúc, những cánh hoa như đang rừng rực bốc cháy trên mộ người liệt sĩ suốt 30 năm được đất lành phương Nam gìn giữ, ôm ấp, giữ trọn hình hài…!
*
* *
Tiếng lành đồn xa. Câu chuyện của chị Yến giúp mẹ con bà Tánh đưa được hài cốt anh Chắt về quê nhà, người dân mấy xã quê tôi ai cũng mừng và cảm động. Khi tôi tìm đến nhà mẹ Lê Thị Tánh, xin phép mẹ viết bài này, mẹ vừa đưa tay quệt nước mắt, vừa móm mém nói với tôi rằng, hiện con trai mẹ đã được đưa về an táng tại nghĩa trang huyện nhà, rằng từ ngày tìm được mộ con, bệnh tim của mẹ tự dưng đỡ hẳn đi. Đôi mắt già nua của mẹ trở nên xa xôi: “Chừ tôi càng thấm thía cái đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam mình. Như chị Yến với bà con và anh em bộ đội trong nớ đã báo tin cho tôi, lại nỏ tiếc công, tiếc của lo lắng nơi ăn ở, sắp xếp việc cất bốc, con cháu tôi mới đưa được thằng Chắt về đây cho tôi. Vì rứa tôi sống được đến bữa ni đó chú. Lòng dân Việt Nam mình đối với người hy sinh vì dân, vì nước ân nghĩa nỏ răng kể xiết! Sâu nặng lắm, chú ạ!”.
NGUYỄN XUÂN DIỆU