Trong căn phòng nhỏ, hàng ngày bà Thái vẫn thường đọc sách báo. Ảnh: Duy Minh

QĐND Online - Trong khu tập thể nhỏ nằm sát phố Đặng Văn Ngữ, Hà Nội, không mấy ai biết bà Trần Thị Thái là người đã từng trực tiếp phục vụ Bác Hồ từ những ngày đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám. Mỗi năm vào dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà thường cùng các đồng đội và con cháu ôn lại những kỷ niệm sâu sắc trong thời gian phục vụ Bác đầy khó khăn những cũng rất vinh quang ấy...

Những kỷ niệm với Bác là những câu chuyện nhỏ trong thời gian bà phục vụ Người ở Việt Bắc. Với bà, đó là khoảng thời gian không bao giờ quên của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết. Đã ngoài 80 tuổi nhưng bà rất minh mẫn, nhớ từng chi tiết trong những câu chuyện đó. Có những chuyện đã được viết ở đâu đó trong sách báo, nhưng cũng có những chuyện lần đầu tiên bà mới kể.

Những bài học “ra dân” đầu tiên

Trong đoàn phục vụ Bác tại chiến khu Việt Bắc thời gian đầu có 8 người, bà là phụ nữ duy nhất, lúc đó bà chỉ mới 22 tuổi. Phần lớn là những thanh niên trẻ mới tham gia cách mạng vì vậy nhiều người còn thiếu kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Bà Thái là một trong số đó. Bà tâm sự: “Hồi đó, tôi thấy mình và một số anh em khác còn tính trẻ con lắm, nhất là trong công tác dân vận”.

Khi đó công tác dân vận được gọi là “ra dân”. Bà kể những lần đầu tiên “ra dân”, anh em trong đoàn đều “học gì nói nấy”, tức là đến gặp dân và thông báo cho dân tất cả những gì đã được học. Khi về, Bác hỏi:

- Các chú, các cô “ra dân” như thế nào?

Một đồng chí trong đoàn nói:

- Thưa Bác, chúng cháu thường mời bà con đến nói chuyện về cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân cả nước và về tình hình trong nước cũng như thế giới.

Bác nói:

- Các chú, các cô làm như thế là không được. Làm công tác dân vận là phải làm cho dân coi mình như người thân trong nhà chứ không chỉ có việc nói chuyện chính trị.

Lúc đó, bà mới dần thấu hiểu ý nghĩa của công tác “ra dân”. Những lần sau đó, anh em thay đổi hẳn cách làm việc. Mỗi khi đến thăm nhà dân, ai nấy đều “thấy việc là làm”. Nếu thấy nhân dân đang giã gạo thì vào giã cùng, đang băm bèo thì vào băm cùng, có lúc còn trông con trẻ và tắm giặt cho chúng.

Qua những việc như vậy, đoàn nhanh chóng chiếm được cảm tình của nhân dân địa phương. Họ coi anh em trong đoàn như người thân trong gia đình. Những em nhỏ trong bản thì mừng rỡ chạy ra đón khi thấy bóng dáng từ xa. Bà tâm sự: “Chỉ tiếc hồi đó không có gì để tặng các em nhỏ”. Thời gian sau, mỗi khi đi “ra dân”, bà và các anh em khác còn được người dân giao việc và bảo làm việc gì trước việc gì sau. Đúng như lời Bác dạy: “Cán bộ phải là đầy tớ của nhân dân”. Cũng chính nhờ vậy mà căn cứ cách mạng được giữ bí mật và an toàn hơn.

Món canh mứt dứa

Trong thời gian phục vụ Bác, một trong những nhiệm vụ chính của bà là nấu cơm cho đoàn, vì vậy bà tự hứa với mình là phải nấu sao cho Bác cảm thấy ngon miệng dù thiếu thốn rất nhiều.

Bà Trần Thị Thái (người đứng ngoài cùng bên phải) cùng Bác Hồ và các anh em phục vụ khác tại chiến khu Việt Bắc năm 1947. Ảnh do bà Thái cung cấp.

Bà nhớ lại, hồi đó sinh hoạt trong rừng gặp nhiều khó khăn nhưng lại có cảm giác sống trong một gia đình mà Bác Hồ như một người cha. Được phục vụ Chủ tịch nước nhưng mọi người trong đoàn không ai có cảm giác mình đang phục vụ một lãnh tụ lớn. Dù bận rất nhiều việc, Bác vẫn cùng lao động và cùng ăn như anh em trong đoàn.

Mỗi lần nuôi được con gà hay câu được con cá, khi nấu xong những người phục vụ đều chặt những phần ngon nhất ra một đĩa dành riêng cho Bác. Nhưng trong bữa ăn khi gắp những miếng đó, Bác lại bảo: “Miếng này dai quá, răng Bác không nhai được” rồi chia đều cho tất cả mọi người, sau cùng mới đến phần mình. Thỉng thoảng, Bác được các đơn vị biếu những chiến lợi phẩm nhưng Người đều gửi những món quà đó đến cho nhân dân các địa phương.

Trong chuyện ăn uống, bà và các đồng chí khác cũng được Bác dạy cho nhiều đức tính, đặc biệt là tính tiết kiệm. Bà kể, khi đã ăn là phải ăn cho hết, không được để thừa rồi vứt đi. Thế nên dù có no đến mấy, nếu mà còn cơm thì Bác cũng bảo những người ăn sau cùng cố ăn hết không để lãng phí.

Có một kỷ niệm mà đến tận bây giờ nghĩ lại bà vẫn cho rằng mình chưa hoàn thành nhiệm vụ Bác giao. Hồi đó Bác được biếu một túi đường nhỏ và một quả dứa. Bác gọi bà đến và bảo làm mứt dứa. Bác kể rằng: lúc ở bên Côn Minh (Trung Quốc), Bác được vợ chồng anh chị Tống Minh Phương làm mứt dứa, ăn rất ngon.

Bà chưa từng được ăn mứt dứa nên cũng không biết làm ra sao. Bà nghĩ cứ cho đường và dứa vào nồi rồi nấu là thành mứt và làm đúng như vậy. Đun mãi đến bữa ăn thì đổ vào bát và mang lên.

Bác nhìn và hỏi:

- Cô nấu cho Bác món gì thế này?

Bà đáp:

- Thưa Bác, mứt dứa ạ.

Bác cười và nói:

- Bác tưởng cô nấu canh.

Mọi người trong đoàn cùng cười theo, còn bà thì cảm thấy như mình chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao. Sau này về Hà Nội, bà mới biết cách làm mứt dứa.

Đôi guốc mộc tặng Bác

Tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ, bà Trần Thị Thái quê Hà Nam còn có tên khác là Nguyễn Thị Thường, phục vụ Bác từ năm 1945 đến năm 1947. Sau đó, bà được chuyển sang làm nhiệm vụ khác cho đến khi nghỉ hưu.

Chồng bà là đồng chí Hoàng Hữu Kháng, một trong những người được Bác Hồ đặt tên và trực tiếp bảo vệ Bác từ năm 1945 tới năm 1951, về sau từng là Cục trưởng Cục Cảnh vệ Bộ Công an. Bà có hai người conmất trong chiến tranh. Người con gái cả bị ốm chết năm 4 tuổi khi đi sơ tán và người con trai thứ hai là bộ đội hy sinh tại chiến trường Quảng Trị năm 1972.

Một trong những kỉ niệm sâu sắc nhất với Bác là việc bà tự tay làm một đôi guốc gỗ xoan tặng Bác. Hồi đó, được trực tiếp phục vụ Bác, bà thấy đôi dép cao su của Người đi khá nặng và không thoải mái khi dùng trong lán. Bà muốn làm một đôi guốc mộc vừa nhẹ vừa tốt biếu Bác.

Trong một lần đi “ra dân”, bà xin được hai khúc gỗ xoan vừa chắc vừa nhẹ về làm guốc. Đóng một đôi guốc gỗ đối với bà không khó nhưng trong thời kỳ khó khăn đó, để có được đầy đủ các vật liệu là quai dép và đinh thì không dễ chút nào. Thật may là quai dép cao su bà lấy được từ một đôi dép đã hỏng đế. Nhưng để có được những chiếc đinh, bà đã phải nhờ người dân địa phương đi chợ xa mất nhiều ngày mới mua được.

Có được đầy đủ vật liệu, bà tự tay tay đẽo gỗ và đóng một đôi guốc vừa nhẹ vừa chắc chắn tặng Bác. Bác đi vừa và rất thích đôi guốc bà tặng. Bác nói: “Đi guốc cô làm vừa mát chân, lại rất thuận tiện” và hỏi:

- Sao cháu làm được?

Bà trả lời:

- Thưa Bác, nhà cháu làm nghề thợ mộc, từ nhỏ cháu đã quen với những công việc này rồi.

Bác nói tiếp:

- Cô nấu mứt dứa thì Bác chê còn làm guốc thì Bác khen.

Bà rất vui vì Bác sử dụng đôi guốc mộc đó thường xuyên, chỉ khi nào đi công tác đường xa Bác mới dùng đôi dép cao su quen thuộc.

Hiện tại, bà sống cùng người con út trên tầng tư của khu tập thể dành cho các cán bộ lão thành cách mạng. Sáng nào cũng vậy, bà dậy sớm tập thể dục và đọc báo, có hôm bà còn tự đi bộ ra chợ mua sắm. Rất kiệm lời khi nói về cuộc đời cách mạng của mình, có lẽ vì vậy mà không nhiều người trong khu biết về vợ chồng bà.

Bà tâm sự “Được phục vụ Bác là niềm hạnh phúc và tự hào nhất có được trong cuộc đời của mình”. Cho đến bây giờ, người phục vụ năm xưa ấy vẫn luôn nguyện sống và lao động theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Duy Minh (ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)