Chị Lụt (đứng giữa) và các đồng chí nguyên là cán bộ, chiến sĩ thuộc tiểu đoàn 3 tỉnh đội Quảng Trị năm 1972, đứng tại sân ngôi nhà từng nuôi dưỡng đồng chí Lê Binh Chủng. (Ảnh chụp tháng 10-2005)

Ngày 28-10-2005, sau 33 năm tôi mới có dịp trở lại Thành cổ Quảng Trị-mảnh đất mà hơn 30 năm trước, tiểu đoàn 3 (tức K3 tỉnh đội Quảng Trị) đã kiên cường anh dũng chiến đấu trong suốt 81 ngày đêm.

Trong trận đánh lịch sử này, tiểu đoàn chúng tôi đã có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ mãi mãi nằm lại bên dòng sông Thạch Hãn lịch sử hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình cho đất mẹ. Chúng tôi còn ghi nhớ sự hy sinh anh dũng của cả BCH tiểu đoàn tại cổng tây Thành cổ cuối tháng 8-1972 và mãi tới năm 2000 mới tìm thấy hài cốt, trong đó có hài cốt của liệt sĩ-chính trị viên phó tiểu đoàn, trung úy Lê Binh Chủng.

Từ thành phố Huế tôi cùng đoàn du lịch quay lại thị xã Quảng Trị. Sau hơn 30 năm, thị xã Quảng Trị đã thay đổi quá nhiều. Đường sá, nhà cửa to đẹp hơn. Tôi thực sự ngỡ ngàng, loay hoay, vòng vèo mãi mới đến được Thành cổ.

Thành cổ Quảng Trị giờ đã trở thành một bảo tàng chiến tranh và chiến thắng, cấp quốc gia. Chúng tôi đi vào thành từ cổng phía Nam (đã được phục chế). Bước chân vào thành, tôi thấy xốn xang một cảm giác khó tả. Thấp thoáng bên những vạt cỏ xanh tơ bỗng hiện về hình ảnh những người đồng đội thân thương của tôi đã hy sinh ngày ấy: anh Đoài, anh Chủng, anh Thu, anh Thuận… và biết bao người khác nữa. Dường như tất cả họ đều hướng mắt về phía tôi, cái nhìn của họ như thầm trách móc: “Sao lâu vậy. Làm gì mà hơn 30 năm rồi, nay mới vào với anh em tớ?”. Xúc động dâng trào, nước mắt giàn giụa, tôi gục ngã xuống thảm cỏ xanh dưới chân, thảm cỏ mà hơn 30 năm về trước đã nhuộm đỏ máu của tôi và đồng đội.

Những người đi cùng đoàn cố dìu tôi vào nhà đón tiếp của bảo tàng. Cáp Thị Huyền Trang, cán bộ của bảo tàng Thành cổ nói trong nước mắt:

- Mời bác vào thăm nơi để 2 lá thư của anh Chủng được không?

Trang xúc động, trân trọng đưa tôi lên tầng 2 của bảo tàng, đến chiếc tủ kính đựng 2 lá thư của liệt sĩ Lê Binh Chủng. Qua tấm kính bảo vệ, màu giấy của 2 lá thư ngày ấy mà chị Phan Thị Biển Khơi gửi cho anh đã ố vàng theo năm tháng. Mắt tôi nhòe đi. Tôi ôm vội lấy tủ kính cho khỏi ngã.

- “… Anh Chủng ơi. Em Hợi đây, Hợi quân lực trong tổ bần nông của chúng ta ngày ấy đây. Em thật có lỗi với anh và anh em đồng đội, đến tận bây giờ-sau hơn 30 năm mới có dịp quay lại với anh và các anh em…”.

Có bao nhiêu điều tưởng chừng đã bị quên đi theo năm tháng, nhưng chỉ một thoáng thôi lại trở về trong tôi với đầy ắp kỷ niệm thân thương… Nhận cái mũ tai bèo có chữ ký của cháu Cáp Thị Huyền Trang làm kỷ niệm, tôi vội vàng chia tay cháu, chia tay Thành cổ để về Đông Hà, tìm lại bằng được chị Lụt-người đồng đội, người chị đã có biết bao kỷ niệm sâu sắc với ban chỉ huy tiểu đoàn 3 chúng tôi hơn 30 năm về trước. Chị đã tận tụy nấu từng bát cháo, tận tay hiến từng viên thuốc để chữa trị bệnh sốt rét kinh niên của chính trị viên-phó tiểu đoàn Lê Binh Chủng.

Sau khi ổn định chỗ ăn ở, tôi ra cổng khách sạn hỏi một chị bán vé số:

- Chị cho tôi hỏi đường về thôn Tây.

Người phụ nữ bán vé số trả lời ngay:

- Thưa bác, Đông Hà chúng tôi không có thôn nào là thôn Tây cả.

Thật bất ngờ, chả lẽ tôi lại nhầm sao?

Đang phân vân thì một bác mua vé số nói:

- Chắc là bác hỏi vào thôn Tây Trì rồi.

Tôi mừng quýnh lên và nhờ một anh xe ôm gần đó đưa tôi vào thôn Tây Trì. Người lái xe ôm nhiệt tình hiến kế cho tôi:

- Cháu sẽ đưa bác vào một ông thương binh, chắc ông ta sẽ biết những điều bác cần.

Thôn Tây Trì, những căn nhà cấp 4 lợp tôn dọc sông Hiến ngày xưa giờ hầu như đã biến mất, thay vào đó là những ngôi nhà mái bằng, nhà 3 tầng. Hơn 30 năm rồi, Đông Hà cùng cả nước đã thay da đổi thịt.

Tôi cùng người lái xe ôm đi thẳng vào một căn nhà tuềnh toàng, đơn sơ. Nghe anh xe ôm trao đổi là có một bác quân giải phóng ngày xưa muốn tìm nhà chị Lụt, người chủ nhà cụt một chân đến tận bẹn, đang nằm trên giường nhảy phắt xuống đất và cố dò ra cổng với động tác rất thuần thục-nói luôn:

- Mụ Lụt hả? Mụ chừ có con làm to lắm, có nhà to ở gần ngã ba đường 9 ấy.

Tôi nhìn khắp căn nhà một lượt rồi cảm ơn và chào chị chủ nhà, lên xe ra ngã ba đường 9.

Người hàng xóm bán hàng tạp hóa chỉ cho tôi nhà chị Lụt. Đó là căn nhà 2 tầng xinh xắn, có ít cây cảnh ở sân.

Gọi cửa, một phụ nữ nhỏ thó từ trong nhà đi ra, tôi nhận ra ngay cháu Loan-con gái chị Lụt. Tôi kéo mũ tai bèo che lấy mặt nói:

- Có nhận ra ai đây không?

Cháu bần thần một lúc, khẽ lấy tay nhắc chiếc mũ tai bèo ra khỏi đầu tôi và thảng thốt:

- Ôi chú Hợi.

Cháu cầm lấy tay tôi mà nước mắt tuôn trào. Tôi nghẹn ngào hỏi ngay cháu:

- Mẹ đâu?

Cháu mời tôi vào nhà uống nước và nói rằng căn nhà cũ trong thôn Tây, nơi Ban chỉ huy tiểu đoàn ở ngày ấy, chừ mẹ cháu vẫn giữ lại làm kỷ niệm và thờ cúng ba cháu luôn. Bao nhiêu người hỏi mua, mẹ nhất định không bán.

Cháu lấy xe máy đưa tôi trở lại thôn Tây, trở lại căn nhà xưa, căn nhà cách đây hơn 30 năm, sau khi giải phóng Đông Hà, BCH tiểu đoàn 3 đã ở. Căn nhà từng nuôi dưỡng, chở che 2 đồng đội của chúng tôi sau này hy sinh tại Thành cổ, đó là liệt sĩ, chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Hữu Đoài và liệt sĩ, chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Binh Chủng.

Loan vứt xe ngoài vườn rồi gọi toáng lên:

- Mạ ơi, mạ có khách quý này.

Người phụ nữ tóc bạc phơ từ trong nhà đi ra. Tôi chầm chậm tiến đến sát chị:

- Chị có nhận ra em không?

Sau một thoáng như quá bất ngờ, chị nhỏ nhẹ như ngày xưa:

- Bố tổ thằng Hợi, tao cứ tưởng mày chết trong Thành cổ ngày ấy rồi.

Rồi chị ôm tôi vào lòng. Hai chị em chúng tôi khóc như trẻ thơ. Loan đứng cạnh cũng khóc. Những kỷ niệm của cách đây hơn 30 năm ập về.

… 22 giờ ngày 21-4-1972, tiểu đoàn 3 chúng tôi đang quần nhau ác liệt với lính sư đoàn 2 ngụy ở cao điểm 30 thì bị B52 đánh trúng đội hình, 21 đồng chí bị thương, 5 đồng chí hy sinh. Trong khói lửa ngút trời ngày ấy, chính trị viên phó Lê Binh Chủng đưa 2 người phụ nữ đến và giới thiệu với tiểu đoàn trưởng Đỗ Văn Mến:

- Đây là mẹ con đồng chí Lụt, cơ sở Cách mạng của ta ở Đông Hà.

Chúng tôi mừng quá, và chỉ chờ có vậy, 2 mẹ con chị vừa khóc vừa lau mặt, vuốt mắt cho liệt sĩ Thao-Đại đội phó đại đội 9. Chị thổn thức:

- Thương các em quá, các em ơi!

Đã gần 5 năm chiến đấu ở Quảng Trị, chúng tôi đã chứng kiến biết bao sự hy sinh của đồng đội, nhưng đây là lần đầu tiên thấy một người phụ nữ khóc thảm thiết đến thế.

Những ngày sau đó, cuộc chiến giữa tiểu đoàn 3 chúng tôi với địch thật ác liệt, giành giật nhau từng mỏm đồi, góc đất, cho đến ngày 24-4-1972, từ các hướng dọc đường 9 chúng tôi cùng các đơn vị bạn tiến vào giải phóng Đông Hà. BCH tiểu đoàn 3 chúng tôi lại được cấp trên bố trí ở ngay trong nhà chị Lụt. Cháu Loan-con gái chị khoác trên vai khẩu AR15 cùng mẹ lên vận chuyển thương binh, tử sĩ cho tiểu đoàn 3 ở cao điểm 30. Lúc đó cháu chưa đầy 14 tuổi.

Chồng chị, đồng chí Lập, là bộ đội địa phương huyện Cam Lộ. Trong một trận đánh ác liệt với địch ở thị trấn Cam Lộ, bị thương nặng và phải ra Bắc điều trị rồi chuyển ngành về một cơ quan ở tỉnh Quảng Ninh.

Cuối thập niên 1950, là những năm tháng cả chiến trường miền Nam gặp rất nhiều khó khăn, bao đồng đội, đồng chí đã ngã xuống trước bom đạn của chế độ Ngô Đình Diệm. Không thể ngồi yên ở hậu phương miền Bắc trong lúc quê hương Quảng Trị đang đắm chìm trong khói lửa chiến tranh, anh Lập tình nguyện tái ngũ, bí mật trở lại đội ngũ chiến đấu ở Huyện ủy Cam Lộ.

Cảnh sát ngụy ở Đông Hà phát hiện chồng chị từ ngoài Bắc vào, chúng bắt chị lên đồn đánh đập, tra tấn rất dã man. Chị nghiến răng chịu đựng đòn thù và chấp nhận một sự hiểu lầm, khinh miệt của mọi người khi sinh cháu Loan để tiếp tục bí mật hoạt động cho đến khi Đông Hà hoàn toàn giải phóng. Lúc đó người dân thôn Tây Trì, Điếu Ngao, Lập Thạch mới biết, chị là người của ta nằm vùng.

Ngày 4-5-1970, trong một trận chỉ huy bộ đội địa phương đánh địch ở căn cứ Cam Lộ, chồng chị đã anh dũng hy sinh. Lúc đó cháu Loan chưa đầy 12 tuổi.

Năm 1972 thực sự là những năm tháng không thể nào quên đối với cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 3 chúng tôi. Trước khi vào Thành cổ chiến đấu, người được mẹ con chị Lụt chăm lo, săn sóc tận tình nhất là chính trị viên-phó tiểu đoàn Lê Binh Chủng.

Bài và ảnh: NGUYỄN HỢI