Từ tỉnh lộ 269, đoạn đường đầu làng Phan, xã Linh Sơn-huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi vượt qua con dốc dài 500m đến trang trại chăn nuôi của bệnh binh Lê Văn Khánh.
Trang trại nằm trên một sườn đồi khá rộng, được bao bọc bằng tường xây gạch khép kín, xung quanh bạt ngàn cây bạch đàn xanh tươi do bà con xã Linh Sơn trồng theo dự án PAM.
Anh Lê Văn Khánh, sinh năm 1965, quê ở xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhập ngũ tháng 2-1984. Gần 17 năm trong quân ngũ, anh được phong quân hàm thượng úy, Trợ lý hậu cần Quân khu I. Anh bị bệnh nặng phải đi nằm viện điều trị liên miên, kéo dài tới hơn 2 năm, bệnh chỉ thuyên giảm phần nào. Lúc chưa phát bệnh, anh Khánh cân nặng gần 70kg, khi xuất viện chỉ còn 47kg, càng ngày càng gầy yếu, da thịt xám tái. Lo lắng cho tương lai của mình, nhiều đêm anh trằn trọc không sao chợp mắt được. Theo tiêu chuẩn, anh có thể nằm điều trị lâu dài nhưng anh quyết định làm đơn xuất ngũ để thay đổi môi trường.
Hội đồng giám định Y khoa quân khu kết luận bệnh của Lê Văn Khánh: “Viêm gan nặng, hoại tử biến chứng, chảy máu đường tiêu hóa, loét hành tá tràng biến chứng, viêm loét đại tràng mãn tính, mất 72% sức khỏe”.
Bộ tư lệnh Quân khu cân nhắc xét đi, xét lại đơn của Lê Văn Khánh. Cuối cùng đành phải giải quyết, đáp ứng nguyện vọng của anh.
Sau gần 17 năm tại ngũ, bệnh binh Lê Văn Khánh ra quân trở về đời thường sống cùng vợ con dưới mái nhà đơn sơ 40m2, ở gần trường Quân sự tỉnh Thái Nguyên. Vợ anh, chị Bùi Thị Ngọc Lan đang tại ngũ, hiện ở bộ phận nuôi quân của trường.
Cầm tấm thẻ bệnh binh hạng 2/4 và 35.000.000 đồng, Khánh suy nghĩ mông lung không biết làm gì đây?
Nghỉ ở nhà được ít lâu, Khánh thấy buồn nhức nhối, ngoài kia cuộc sống đang nhộn nhịp, sôi động như guồng máy đang tăng tốc. Anh đạp xe lân la đó đây, chủ yếu xem thiên hạ làm ăn thế nào. Cơ chế thị trường ngày càng rộng mở, thông thoáng. Anh nhận thấy nhiều người, nhiều gia đình chỉ sau vài năm gần đây đã thoát khỏi cảnh “lão bần” vươn lên “ông bà phú”. Lại có kẻ dấn sâu vào con đường làm ăn bất chính, tội lỗi, bây giờ ngồi bóc lịch trong tù. Bài học đời sâu sắc đã dạy “tham thì thâm”, quả không sai, và anh chọn một hướng đi phù hợp với sức khỏe, khả năng của mình: nuôi lợn siêu nạc.
Vào buổi sáng cuối đông năm 2000, Lê Văn Khánh làm đơn lên phòng Nông nghiệp huyện Đồng Hỷ-tỉnh Thái Nguyên xin đăng ký nuôi 12 đầu lợn nái siêu nạc theo hướng công nghiệp. Đơn của anh được chấp nhận ngay vì nó đi đúng hướng, tỉnh đang động viên, khuyến khích. Trên duyệt cho anh mua 12 đầu lợn nái, mỗi con được hỗ trợ 375.000 đồng. Các đồng chí ở Trung tâm Khuyến nông huyện Đồng Hỷ động viên Khánh cố gắng thực hiện tốt mô hình này.
Vợ chồng Lê Văn Khánh vừa mừng, vừa lo. Mừng vì đã đạt được mục đích, nguyện vọng song lo lắng sợ không nuôi nổi số lợn nái này cho đến lúc chúng sinh con rồi còn phải nuôi đến khi được xuất chuồng số tiền bỏ ra không nhỏ. Vay vốn ngân hàng thì không có tài sản thế chấp, lại thiếu đất làm chuồng trại…
Biết được sự lo lắng, khó khăn của vợ chồng Khánh, các đồng chí lãnh đạo trường Quân sự tỉnh Thái Nguyên nơi chị Lan đang công tác đã tạo điều kiện cho anh chị vay ít tiền làm vốn và cho mượn tạm khu đất làm chuồng trại chăn nuôi; ngân hàng Nông nghiệp Đồng Hỷ cho vay 30.000.000 đồng.
Sau hơn một năm phấn đấu quyết liệt, vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, nhất là vượt qua bệnh tật giày vò thể xác, gia đình đã có 12 “cô nái” siêu nạc, đẻ trong năm 2001 tới 220 lợn con. Đàn lợn hay ăn chóng lớn nhờ chăm sóc tốt, có người bảo anh mát tay.
Năm đó bán lợn con, anh thanh toán hết số tiền nợ và còn được lãi 50.000.000 đồng. Kết quả bước đầu như một làn gió mát, một liều thuốc bổ kích thích nghị lực và lòng quyết tâm vươn lên của Khánh. Năm sau, anh tăng dần đầu lợn nái và lãi hơn 90.000.000 đồng; năm sau, tăng lên tới 30 đầu lợn nái, lãi 112.000.000 đồng. Hàng xóm láng giềng ai cũng tỏ lời khen anh biết cách chăn nuôi, giỏi làm kinh tế…
*
* *
Nhận thấy chăn nuôi lợn siêu nạc theo hướng công nghiệp phát triển tốt, Lê Văn Khánh bàn với vợ phải đi mua đất để mở rộng trang trại. Anh đi đến hầu hết các vùng phía Tây, phía Bắc huyện Đồng Hỷ. Nhận thấy không đâu bằng vùng đất xã Linh Sơn, vừa có đồi núi, đồng ruộng, lại gần thị trường tiêu thụ hàng hóa và gần nơi vợ con đang sinh sống, công tác, anh quyết định xin nhập khẩu về xã Linh Sơn, mua 3.600m2 đất vườn đồi làm trang trại.
Mua được đất, anh Khánh quy hoạch trang trại chăn nuôi. San mặt bằng xong, anh xây dựng gần 400m tường bao, cao 1,80m, khoan hai giếng lớn lấy nước sạch, một ao nhỏ chứa nước thải. Khu chuồng chăn nuôi được xây dựng trên nền cao ráo, thoáng mát, ngăn từng khu, bảo đảm tính năng, công dụng tối đa: Chuồng lợn nái đẻ, chuồng chứa, chuồng hậu bị, chuồng tách con, chuồng nuôi lợn thịt, máng nước sạch và bể cho lợn tắm. Anh trang bị toàn bộ hệ thống máng tự động cho lợn ăn cám. Số vốn đầu tư vào khu trang trại này tới nửa tỷ đồng. “Công trình” hoàn thành vào cuối năm 2003.
Từ đó đến nay (5-2007), trong chuồng chăn nuôi của Lê Văn Khánh lúc nào cũng có trên dưới 300 đầu lợn, trong đó có 30 lợn nái, 1 lợn đực giống.
Lê Văn Khánh cho biết, mỗi tháng anh cho phối giống từ 6 đến 7 lợn nái, sau khoảng 100 ngày anh có trên dưới 70 lợn con. Một năm quay vòng của 30 lợn nái đẻ, bảo đảm có từ 600 đến 630 đầu lợn.
Nuôi lợn siêu nạc đòi hỏi phải thực hiện triệt để các quy trình kỹ thuật từ cho lợn ăn, uống, tiêm phòng định kỳ, đủ liều lượng bảo đảm tốt vệ sinh, thường xuyên theo dõi đàn lợn để phát hiện kịp thời những diễn biến xấu để xử lý ngay…
- Mấy năm chăn nuôi, trang trại của anh có con lợn nào bị chết không? Tôi hỏi Khánh.
- Không bác ạ! Phòng bệnh cho lợn là chính!
- Anh có biết hiện nay đang có bệnh “lạ” không?
- Có! Tỉnh Hải Dương đang có loại bệnh “rối loạn sinh sản” (PRRS).
- Nên chống bằng cách nào?
Không cần suy nghĩ, anh trả lời:
- Chủ yếu hằng ngày tăng cường vệ sinh chuồng trại, phun thuốc khử trùng thường xuyên, theo dõi chặt chẽ đàn lợn, phát hiện kịp thời những diễn biến xấu để xử lý ngay.
- Anh Khánh này! Sao lợn con lại phải bấm tai, cắt đuôi?
Khánh cười vui vẻ:
- Bấm tai để đánh dấu theo yêu cầu của khách hàng bên nhập, để họ biết được lợn đó của ai, ở đâu. Còn cắt đuôi để bảo đảm vệ sinh, đuôi không vung vẩy bẩn, lợn cắt đuôi bảo đảm mông nở khá to. Các “thượng đế” khó tính mấy cũng ham mua.
- Nuôi lợn công nghiệp, anh thấy thế nào?
- Tuyệt, bác ạ! Nuôi được nhiều đỡ vất vả. Không như cái anh chăn nuôi theo kiểu thủ công, băm rau bèo, nấu cám vất vả lắm, khói đêm lòi mắt.
- Anh nuôi thường xuyên trên dưới 300 đầu lợn, phải dùng mấy nhân công?
- Tôi thuê một chị trong xóm ngày làm việc đúng 8 giờ, lương tháng trả chị 900.000 đồng, buổi sáng quét dọn vệ sinh, cho cám vào máng tự động, buổi chiều làm các việc nhẹ nhàng khác. Tôi trả công thế là cao. So với làm ruộng là 3 tạ thóc/tháng, một năm chị có 3.600kg thóc phơi già, quạt sạch. Được cái, chị rất chịu khó, tôi quý chị như người nhà-Anh Khánh cười vui vẻ.
- Một tháng anh xuất mấy tạ lợn thịt?
- Trung bình 4-4,5 tấn.
-Một năm bao nhiêu tấn?
-Trên dưới 50 tấn, trong đó thịt lợn xuất khẩu 60%, còn lại bán ra thị trường.
-Một tháng anh sử dụng mấy tấn cám?
-Khoảng 9 tấn. năm 2006 vừa qua, tôi thanh toán trả tiền cám cho bên đại lý gần 700.000.000 đồng.
-Trừ chi phí tất cả các khoản, một năm anh được lãi bao nhiêu.
Anh Khánh đứng lên đi vào phía tủ, lấy ra một quyển sổ bìa cứng đặt lên mặt bàn, thong thả đọc trong 3 năm trở lại đây, con số tính tròn: Năm 2004 lãi 120.000.000 đồng; năm 2005 lãi 129.000.000 đồng; năm 2006 lãi 111.000.000 đồng.
-Anh dự tính năm nay lỗ lãi thế nào?
-Nếu giá cả bình ổn như thời điểm này (5-2007) trừ các khoản chi phí cũng có thể thu về trên dưới 130.000.000 đồng hoặc cao hơn chút ít. Vì năm nay lợn xuất khẩu nhiều hơn năm ngoái và lợn thịt bán ra thị trường cũng nhiều hơn.
Tôi thầm khen anh bệnh binh này. Phải nói rằng rất kính phục anh về ý chí làm ăn, vươn lên trong cuộc sống. Do chăn nuôi nhiều, anh tận dụng nguồn phân xây 2 bể bi-ô-ga, có sức chứa gần 60m3, thoải mái có ga nấu cơm, đun nước nóng sinh hoạt cho gia đình, còn thắp sáng được 20 bóng đèn, sưởi ấm cho các đàn lợn con vừa ra đời. Anh còn chăn nuôi 30-40 con “vện”, coi đó là “đội đặc nhiệm bảo vệ chuồng trại đêm, ngày”. Chó cũng là một nguồn thu không nhỏ cho gia đình, một năm có tới 10.000.000 đồng, tiền bán chó giống và chó thịt.
Nhìn dãy chuồng chăn nuôi cao ráo, sạch sẽ, thoáng rộng chứa mấy trăm con lợn, to có, vừa có, nhỏ có... từng loại, từng đàn, con nào da thịt cũng hồng mịn, đẹp như tranh lợn làng Hồ. Chúng ăn uống suốt ngày, ăn no, uống no, rồi lại nhảy vào bể tắm, xong lên sàn nằm ngủ. Ngủ dậy đói lại ăn, lại tắm, lại ngủ... cho đến khi đủ chu kỳ, đủ trọng lượng là ông chủ cho chúng xuất chuồng.
Cứ nghe bà con và các đồng chí ở chi hội cựu chiến binh nói, thì trong người anh Khánh đầy bệnh tật. Ngày nào anh cũng phải uống thuốc, thuốc nam là chủ yếu, dễ có đến hàng nghìn thang thuốc nam, hàng vạn bát nước thuốc vào người Khánh trong mấy năm qua.
Tôi thăm dò Lê Văn Khánh:
-Tình hình bệnh tật, sức khỏe của anh hiện nay thế nào? Với nụ cười lạc quan vui vẻ, anh đáp:
-Cảm ơn bác! Sức khỏe của tôi mấy năm nay khá hơn nhiều so với hồi mới về. Tôi vẫn dùng đơn thuốc nam của Viện Y học dân tộc quân đội và của bà con các dân tộc quanh vùng đây.
-Anh đỡ bệnh bằng loại thuốc nào?
Anh Khánh cười xuề xòa:
-Tôi cũng không rõ, cứ ai bảo đâu là tôi âu đấy, có bệnh là vái tứ phương mà bác (lại cười). Nhưng phải thường xuyên tập thể dục buổi sáng, buổi tối trước giờ đi ngủ.
Tôi đứng lên nắm chặt tay anh, bàn tay người bệnh binh chỉ còn 28% sức khỏe bỗng nhớ bài thơ mộc mạc, giản dị về ngôn từ nhưng thấm đẫm tình đồng đội, tình người của một đồng chí trong Chi hội Cựu chiến binh xã Linh Sơn, tặng bệnh binh Lê Văn Khánh nhân ngày: 27-7-2006.
“Quê anh bản ngoại Đại Từ/xưa là thượng úy bây giờ “thượng mưu”/san đồi bạt núi nuôi heo/ba trăm lợn bột kèm theo đàn sề/con nào cũng mập như bê/khen anh khéo vẽ chẳng hề phải tô/bệnh binh xây đẹp cơ đồ/tấm gương chất lính Cụ Hồ, phát huy!
Tạm biệt người lính Cụ Hồ, tạm biệt bệnh binh Lê Văn Khánh, chúng tôi ra về tràn đầy niềm vui phấn khởi. Phía chân trời đằng Đông đang rực ánh hồng.
Kìa! Bình minh đang lên. Lại một ngày mới bắt đầu!
Bài và ảnh: LƯƠNG THANH SƠN