Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng liên lạc với các tổ, đội đánh cá trên biển bằng máy sóng ngắn I-Com. Ảnh: BÁ VĨNH

Thành phố Đà Nẵng có 17 xã, phường ven biển, thuộc 5/8 quận, huyện, với số dân khoảng 300.000 người, trong đó có khoảng 10.000 lao động nghề biển, hơn 3.000 phương tiện khai thác hải sản. Đó là không tính đến số lao động ở các địa phương khác đến làm thuê chưa thể thống kê hết được.

Với một lực lượng lao động và phương tiện khá lớn như vậy, nhưng ngư dân Đà Nẵng hành nghề chủ yếu theo mô hình hộ gia đình, chưa có một tổ chức thống nhất như: Tổ, đội đánh bắt, hoặc hợp tác xã… Chính vì vậy, trong những năm qua, mặc dù bộ đội Biên phòng thành phố đã phối hợp chặt chẽ với ngành thủy sản và chính quyền các địa phương, triển khai nhiều biện pháp để quản lý lao động và phương tiện, nhằm giúp ngư dân tránh được tai nạn, rủi ro xảy ra trên biển, đặc biệt là khi có bão lớn xảy ra nhưng vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Minh chứng rõ nhất, và cũng là bài học lớn nhất đối với ngư dân Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung là những thiệt hại nặng nề về người và tài sản do cơn bão số 1 năm 2006 gây ra.

Trước thực trạng trên, bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng đã cùng với các ngành chức năng và chính quyền các địa phương rốt ráo triển khai nhiều biện pháp cấp bách. Trong đó, có hai biện pháp mang tính đột phá, nhằm “kéo đại dương gần với đất liền”. Đó là, kiên quyết tổ chức thành lập các “tổ, đội tàu thuyền an toàn” trên biển và tổ chức mạng thông tin liên lạc bằng máy I-Com sóng ngắn tầm xa cho tất cả các tổ, đội đánh cá của ngư dân. Về mặt tổ chức, bộ đội Biên phòng thành phố không chỉ phối hợp với các địa phương thống kê số lượng tàu thuyền, đăng ký lao động tại chỗ và lao động từ các địa phương khác đến hợp đồng, mà còn tiến hành thành lập các tổ, đội đánh cá trên cơ sở thống nhất với các chủ phương tiện để họ lựa chọn những tàu, thuyền cùng trong tổ dân phố hoặc cùng dòng họ. Cách làm này không chỉ tập hợp các tàu riêng rẽ thành tổ đội có tổ chức, mà còn xây dựng được phương thức quản lý theo hệ thống từ các tàu đánh bắt cá ở ngư trường xa, đến các đồn biên phòng và cơ quan quản lý cao hơn.

Tâm lý của ngư dân khi hoạt động trên biển là bí mật ngư trường. Chính vì vậy, quá trình hoạt động trên biển, khi tìm ra ngư trường, họ thường tắt hệ thống tin liên lạc. Điều này lý giải một phần vì sao ngư dân được trang bị mạng thông tin tương đối hiện đại, nhưng khi có tình huống như bão tố, tình hình an ninh biển có vấn đề… việc thông tin giữa đất liền và các phương tiện trên biển lại không liên lạc được với nhau. Nắm bắt tâm lý này, bộ đội Biên phòng thành phố đã quy định tần số riêng cho từng tổ đội, đồng thời ký cam kết bảo đảm bí mật tọa độ ngư trường với từng tổ, đội trong quá trình thông báo tình hình và nắm tình hình trên biển do ngư dân báo về. Thực tế đã chứng minh, từ đầu năm đến nay, khi triển khai thành lập các tổ đội đánh cá, đồng thời cam kết bảo đảm bí mật thông tin liên lạc với các tổ đội, biên phòng thành phố Đà Nẵng không chỉ quản lý chặt chẽ được số lượng tàu, thuyền, nhân lực lao động trên biển, mà còn xác định được từng vị trí, từng tọa độ trên biển có bao nhiêu phương tiện và lao động đang hành nghề. Nhờ vậy đã kịp thời thông báo đến từng tàu diễn biến phức tạp của thời tiết và tình hình an ninh trên biển để ngư dân chủ động đối phó. Trong những trận bão vừa qua ngư dân đã được thông báo thường xuyên, nên chủ động điều động phương tiện theo sự hướng dẫn của đất liền, tránh trú bão an toàn.

Về mạng thông tin liên lạc bằng máy I-Com sóng ngắn tầm xa, thành phố Đà Nẵng là địa phương tiên phong triển khai đồng bộ mạng thông tin liên lạc cho ngư dân. Đến nay, các địa phương ven biển trong thành phố đã thành lập được 92 tổ, đội tàu, thuyền, được thành phố trang bị bổ sung 49 máy thông tin liên lạc, trị giá mỗi máy từ 25 triệu đồng trở lên. Trong những bài viết trước đây chúng tôi đã đề cập đến việc sử dụng nguồn vốn tài trợ cho ngư dân thế nào cho hợp lý và hiệu quả. Không phải chúng ta cứ đưa tiền xuống cho ngư dân đã là tốt, mà điều quan trọng hơn đồng tiền đó phải được sử dụng như thế nào cho hiệu quả. Việc thành phố Đà Nẵng trang bị cho ngư dân hệ thống tin liên lạc và ký cam kết sử dụng mạng thông tin liên lạc này giữa cơ quan quản lý và người được trang bị như đã trình bày trên, không chỉ phát huy được hiệu quả của sự đầu tư, mà cái được lớn hơn, có ý nghĩa cả về an ninh, chính trị, kinh tế và an toàn cho ngư dân là vô giá. Cùng với việc thành lập các tần số riêng cho từng tổ, đội tàu, thuyền để bảo đảm bí mật ngư trường cho ngư dân trong quá trình liên lạc, các cơ quan chức năng của thành phố còn quy định tần số cứu nạn khẩn cấp cả ban ngày và ban đêm, thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, đồng thời in ấn bản hướng dẫn sử dụng, cấp phát cho tất cả các chủ phương tiện, hướng dẫn cách gọi đơn giản, dễ nhớ, để mọi ngư dân, mọi phương tiện đều sử dụng được một cách dễ dàng. Với các biện pháp này, trong thời gian vừa qua, đặc biệt là khi các trận bão đổ bộ vào vùng biển nước ta trong thời gian gần đây, bộ đội Biên phòng thành phố đã kịp thời thông báo cho hơn 2.000 phương tiện đang hoạt động ở các vùng biển xa, kịp thời tìm nơi tránh trú bão an toàn. Cùng với hai biện pháp có tính đột phá trên, bộ đội Biên phòng thành phố đã cùng với các cơ quan chức năng soạn thảo quy định về trách nhiệm của thuyền trưởng và thuyền viên trong trường hợp có bão và có tình huống xấu xảy ra trên biển, tổ chức tập huấn và hướng dẫn từng bước, thứ tự từng động tác, trách nhiệm của từng vị trí khi có tình huống xảy ra… Đây cũng là cách làm thiết thực, không chỉ hướng dẫn cho ngư dân cách xử lý tình huống, mà còn tạo ra nền nếp và ý thức làm việc khoa học, dần xóa bỏ cách làm việc giản đơn, kinh nghiệm chủ nghĩa.

Chúng tôi chưa có điều kiện tìm hiểu hết được những cách làm, cách quản lý đối với phương tiện của ngư dân ở các địa phương ven biển miền Trung, nhưng thông qua cách làm trên của thành phố Đà Nẵng, được giới thiệu trong bài viết ngắn này, hy vọng sẽ được các địa phương nghiên cứu vận dụng và bổ sung, để việc quản lý phương tiện và nhân lực ngư dân hoạt động trên biển ngày càng nền nếp, góp phần để ngành kinh tế biển của nước ta phát triển bền vững.

Bài: LÂM QUÝ