 |
|
Tiểu đoàn Cát Bi trong lễ xuất quân ngày 16-11-1967 tại chân núi Yên Tử. Ảnh Tư Liệu |
(Tiếp theo số trước)
Người liệt sĩ trở về
Ông Trần Văn Bản, sinh năm 1946, quê ở xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Ông là lớp tân binh nhập ngũ đúng ngày thành lập tiểu đoàn Cát Bi 25-3-1967. Ông nhớ lại, lúc tập trung đọc tên, mọi người đều có, riêng ông không thấy ai nhắc đến, ông vào thắc mắc với huyện đội. Được huyện giải thích, gia đình chỉ mình ông con trai, xã muốn ông ở lại làm thông tin xã vì chữ đẹp. Ông kiên quyết xin lên đường tòng quân, huyện đội yêu cầu ông phải viết đơn, ông đã trích máu viết lá đơn quyết tâm lên đường giết giặc. Trong trận đánh bốt Phú Hòa Đông, ông ôm 10kg bộc phá lao lên mở cửa cho đơn vị tấn công. Đồng đội nghe một tiếng nổ đinh tai và nhìn thấy ông bị hất tung lên trong khói lửa mịt mù... Sau trận đánh, đơn vị cho trinh sát vào tìm ông, nhưng chỉ thấy một mũ tai bèo và cây súng cong queo, còn rõ số hiệu cây súng. Thế là đơn vị làm giấy báo tử công nhận ông là liệt sĩ gửi về quê nhà. Còn ông không hiểu sao mình còn sống, khi tỉnh dậy, nghe tiếng bọn giặc, ông vội lết ra xa. Thấy cái giếng cạn sâu độ 2m, ông tụt xuống trốn tạm. Nhưng sau đó vì sức yếu ông không làm sao lên được. Thoáng nghe tiếng phụ nữ, ông cầm mấy cây cỏ khua mạnh. Họ tới nhìn thấy ông, về báo cho du kích. Mãi xâm xẩm tối, có một ông cụ ra giúp ông leo lên. Ông Bản lần mò ra sông, bơi về đơn vị nhưng máy bay địch phát hiện, chúng bỏ bom. Nhờ bom nổ làm sóng lớn đẩy ông vào bờ, nếu để tự bơi chắc ông cũng đã chết vì không còn sức. Ông chia tay K2 từ đấy, được về điều trị ở quân y C10. Chính tại đây ông Bản đã được chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh, ông đã cùng anh em quân y chôn cất đồng đội. Thấy việc đánh dấu phần mộ liệt sĩ sơ sài, ông đã nghĩ ra một cách là cắt các lon sữa bò thành từng mảnh, rồi đục tên liệt sĩ, quê quán bỏ vào các chai nhỏ, chôn cùng liệt sĩ. Trong một trận bom giặc thả trúng mộ chôn các liệt sĩ, thấy lọ đựng tên của liệt sĩ bị đánh bay mất, ông lại về trăn trở, làm sao lưu được tên tuổi liệt sĩ đây? Nhớ lại thời đi học, khi giấy đã viết mực bị thấm dầu hỏa thì không tài nào bay chữ được. Ông bèn thử thí nghiệm lấy hai tờ giấy, cùng viết chữ lên, một tờ thì có tẩm mỡ bò, còn tờ kia không tẩm. Ông đem treo hai tờ giấy lên cây phơi mưa, nắng. Sau một tuần ông mang xuống thì tờ phết mỡ bò chữ không bay đi, còn tờ kia đã thành giấy trắng. Nhiều anh em thấy ông làm vậy cho rằng ông gàn, nhưng điều đó sau này có giá trị vô cùng cho những người đi tìm hài cốt liệt sĩ. Từ đấy ông Bản viết tên liệt sĩ lên giấy rồi phết mỡ bò lên để cho khỏi bị bay chữ, bỏ vào lọ penicilin, nếu không có thì cho vào túi ni lông hàn kín lại cho vào miệng liệt sĩ. Có một lần, trên thông báo địch đã phát hiện quân y C10, phải sơ tán thương binh ngay trong đêm. Ông Bản lúc này sức khỏe đã khá nên xung phong cùng nữ quân y tên là Thu, đưa chừng 20 anh em đi sơ tán. Trên đường đi, ông bỗng nghe mùi thuốc lá thơm của Mỹ. Ông bảo anh em thương binh dừng lại, ông lên trước thám thính. Ai ngờ, mới lên một đoạn ông dẫm trúng cành cao su, nghe ầm ầm, hơn chục quả mìn nổ, ông nằm rạp xuống. Dứt tiếng nổ, cô y tá ngỡ ông chết rồi, lại không có kinh nghiệm chiến đấu, vừa chạy lên vừa gọi “anh Bản ơi!”. Lập tức một loạt đạn bắn xối xả và nữ y tá hy sinh, cùng thai nhi 3 tháng tuổi. Đau đớn, Trần Văn Bản đứng lên quét một loạt AK về phía tiếng súng. Đạn địch bắn như mưa, một viên trúng lưng, xuyên qua phổi. Ông nghe thở phì phò biết mình bị thương nặng, một tay bịt vết thương, một tay mở cây rừng về đơn vị. Ngay đêm ấy, quân y C10 băng bó cho ông và chuyển ông về dân y Bến Cát Bình Dương. Vừa hụt chết ở quân y C10, tưởng sang đây thoát nạn, ai ngờ máy bay địch trinh sát phát hiện, thế là nó bắn chỉ điểm để các máy bay khác đến bắn phá. Một viên đạn làm tung cửa hầm của ông cùng 2 thương binh khác, chưa kịp định hình thì một trái bom nổ cạnh, mảnh văng sạt qua tay ông, hai mảnh khác giết chết hai thương binh ngồi cùng. Hầm sập, mắt ông bị mù vì luồng khói cay bom địch. May mắn một cơn mưa ập đến, địch ngừng tấn công, chị Ba Huynh, cán bộ y tế Bến Cát đi tìm ngang hầm, chị gọi: “Có ai dưới đó không?”, ông Bản mừng quá: “Còn tui đây, cứu tôi với!”. Chị Ba Huynh bảo: “Anh lên đi chứ, nhanh mà thoát khỏi đây”. Ông Bản kêu lên: “Mắt tôi mù rồi, đâu có thấy đường đi”. Thế là chị Ba Huynh phải moi cây xuống cõng ông lên (Chị Ba Huynh sau được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân). Cả trại thương binh tranh thủ sơ tán vào rừng. Sau cơn mưa bọn giặc cho quân đổ bộ xuống phá tan tành trạm dân y Bến Cát.
Chữ ông Bản khá đẹp, trong những ngày chuẩn bị về đơn vị chiến đấu, ông giúp cán bộ quân y C10 làm báo cáo tình hình thương binh gửi lên trên. Ai ngờ ông Năm Minh, Chính trị viên ban quân y Phân khu 1 nhìn thấy báo cáo của quân y C10 bèn truy tông tích và ra quyết định điều ông về ban quân y. Hôm chính trị viên Năm Minh xuống trao quyết định, ông Bản cự nự: “Tôi là lính chiến đấu, anh phải cho tôi về đơn vị đi chiến đấu, chứ tôi không ở đây đâu”. Ông Năm Minh dỗ dành: “Đồng chí chưa bình phục hẳn thương tật. Đồng chí lại có khả năng viết lách, chúng tôi đang rất cần người như vậy. Ở đâu cũng là phục vụ quân đội thôi”. Nghe vậy, ông Bản xuôi tai ở lại ban quân y Phân khu 1, đây thực sự là thời gian rất có ích cho việc đi tìm mộ đồng đội sau này. Trước hết, tháng 3 năm 1969, Trần Văn Bản đi dự đại hội Phân khu Sài Gòn-Gia Định. Ở đó ông báo cáo trước hội nghị về chuyện cái lọ penicilin và mảnh giấy thấm mỡ bò. Nhiều cán bộ cấp cao cho là cách làm hay cần áp dụng. Qua hội nghị, cách làm của ông được áp dụng rộng rãi trên nhiều mặt trận và nhiều đơn vị khác nhau.
Được công tác ở ban quân y, ông Bản có rất nhiều dịp đến với các trạm quân y C2, C3, C4, C5, C6, C7, C10, C12… Ông cũng đã nhiều lần cùng anh em chôn cất liệt sĩ. Những lần như vậy ông Bản đã âm thầm vẽ lại sơ đồ mộ liệt sĩ của các trạm quân y. Ông không dám nói với ai những việc làm ấy, vì đó cũng là sai nguyên tắc bảo vệ cơ quan. Hàng trăm sơ đồ mộ liệt sĩ được ông cho vào thùng đạn đại liên mang bên mình. Nhưng một lần, địch bất ngờ đổ quân đánh chiếm ấp Xóm Chùa, xã Anh Phú, huyện Củ Chi. Trong tình thế hết sức nguy nan, ông đã phải giấu chiếc thùng xuống hố bom. Sau này ông tìm lại thì không sao thấy nữa vì giặc đã thả bom chi chít nơi này. Cuối năm 1970, ông được trên cho đi học y sĩ, sau khi ra trường ông về quân y đoàn 769, trong hội đồng giám định sức khỏe cho anh em. Năm 1974, ông Bản xây dựng gia đình với cô y tá Huỳnh Thị Phượng, người cùng đơn vị.
Sau ngày thống nhất đất nước, cuối năm 1975, Trần Văn Bản xin phép đơn vị về thăm quê hương và mẹ già sau bao năm xa cách. Về đến huyện đội Vĩnh Bảo, ông huyện đội trưởng mắt tròn xoe kinh ngạc: “Tôi đã làm lễ truy điệu cho đồng chí rồi mà?”… Huyện đội trưởng vui mừng cho xe ô tô chở ông về tận nhà. Các em ngỡ ngàng nhìn anh trai rồi lại nhìn lên bàn thờ. Mẹ già mừng quá, ngỡ là mơ không nói được tiếng nào. Cả đêm mẹ không ngủ cứ lầm rầm khấn vái, rồi lại vào giường sờ chân tay thằng con trai duy nhất mà vẫn chưa tin được. Ông phải vùng dậy kéo mẹ xuống thưa: “ Mẹ ơi! Con là Bản của mẹ đây, người thật chứ không phải là hồn hiện về đâu mẹ”. Mẹ òa khóc: “Con trai tôi thật rồi, trời vẫn thương mẹ, cho con về với mẹ”. Ông có biết đâu, mẹ nhận được giấy báo tử từ năm 1968, địa phương đã tổ chức lễ truy điệu và anh đã có một ngôi mộ mang tên mình trong nghĩa trang, nhưng mẹ nhất định không nhận tiền gia đình liệt sĩ hằng tháng, vì mẹ vẫn tin con trai mình sẽ trở về. Sáng hôm sau bà con hàng xóm kéo đến ngày một đông. Nhất là những gia đình có con đi chiến đấu mà chưa có tin tức gì. Năm ông Bản đi có 29 người cùng xã, mà lúc này mới có hai người về. Ông biết chắc chắn hơn 20 đồng đội đã ngã xuống trên mảnh đất Củ Chi-Trảng Bàng. Có người mẹ sang ôm ông khóc nức nở nói: Cháu hãy cho bác biết thật đi con bác giờ ở đâu rồi? Tại sao nó chết mà không có giấy báo tử, nếu nó chết thì giờ nó nằm ở đâu?... Ông Bản phải ra ủy ban xã, kê khai những người mà ông biết chắc chắn đã hy sinh để xã báo lên trên làm giấy báo tử sĩ cho các gia đình.
Trở lại miền Nam, trong lòng Trần Văn Bản vẫn canh cánh hiện về những người đồng đội đã ngã xuống, như Hoà, Kiên, Viện, Biên… Ông nhớ tới phút giây trước khi hy sinh của Nguyễn Văn Kiên. Mặt đầy sình và máu, bụng, chân ngực đều bị vết thương nặng Kiên trăng trối lại: “Sau chiến tranh, nếu mày còn sống, mày cố đưa tao về cho mẹ tao!”. Trong lòng ông tự hứa với mình sẽ thực hiện tâm nguyện của người hy sinh và thân nhân đồng đội mình. Nhiều đêm đang ngủ, ông giật mình nhớ tới các sơ đồ mộ chí năm xưa mà mình đã vẽ, ông vội vùng dậy cố ghi chép lại. Từ năm 1977, ông Bản bắt đầu đi tìm mộ liệt sĩ. Lúc này ông đã chuyển ngành về công tác tại trung tâm y tế quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh). Những ngày thường phải lo việc cơ quan, chỉ có ngày nghỉ mới rảnh thời gian, ông lên đường đi tìm đồng đội xưa. Công việc âm thầm, ông giấu cả vợ con, khiến cho vợ có lúc tưởng ông có “bà nhỏ”. Không nghi sao được, khi mà cứ ngày lễ, ngày nghỉ ông đi từ sáng đến tối mịt, đêm thì lúc tỉnh, lúc mơ, lúi húi ghi ghi, chép chép. Bên cạnh lúc nào cũng có cuốn sổ. Vợ căn vặn thì ông trả lời vu vơ… Cho đến một lần, ông Bản vừa về đến nhà, bà Phượng đã bắt ông phải nói thật: “Anh đã không tôn trọng em.. tại sao anh đi tìm đồng đội của mình mà không cho em biết?”. Hoá ra bà đã tranh thủ lúc ông ngủ say, tìm đọc quyển sổ tay, mở ra thấy chằng chịt sơ đồ mộ liệt sĩ, bà mới hiểu được công việc của ông bấy lâu nay và bà nhớ tới những chiếc ba lô ông cất lên gác xép nhà, không cho ai xem. Từ đáy lòng bà, tình yêu thương chồng dâng lên, bà nghẹn ngào: “Tại sao anh đưa đồng đội về để trong nhà, mà không thắp hương cho các anh ấy?”. Cảm động tấm lòng chân tình của vợ, ông Bản lấy hương lên gác xép thắp cho đồng đội…
Có lần ông về lại rừng Bến Cát, lúc này thuộc tỉnh Sông Bé, tìm lại nơi đóng quân của các trạm quân y xưa. Ai ngờ thấy xe ủi đang dàn hàng ủi rừng để trồng cao su. Ông vội quẳng xe đạp chặn trước các xe ủi hét lớn: “Không được ủi mồ mả liệt sĩ!”. Mấy chiến sĩ huyện đội ra quát: “Anh là ai, mà dám cản trở công việc của Nhà nước”. Họ đòi trói ông lại. May mà có cô Hường dân y Bến Cát trước đây, biết ông nên can ngăn và báo về huyện. Cán bộ huyện xuống, có ai ngờ toàn là những người quen cũ. Khi biết ông đang lập sơ đồ mộ liệt sĩ thì họ mừng vô cùng, vì tỉnh cũng đã chỉ thị huyện phải chú ý thu gom hài cốt liệt sĩ mới được san ủi trồng cao su. Họ mời ông về huyện và ngày hôm sau tổ chức họp có cả cán bộ tỉnh về dự để nghe ông nói về mộ liệt sĩ trong khu vực. Không có sơ đồ, ông lấy phấn vẽ lên bàn rành rọt từng nơi chôn cất liệt sĩ các đơn vị quân y. Nhờ sự chỉ dẫn của ông, các lực lượng đã tìm được hơn trăm bộ hài cốt liệt sĩ đưa về nghĩa trang liệt sĩ Bến Cát.
ĐOÀN HOÀI TRUNG