 |
|
Anh chị Nghiêm Khắc Liêu-Hoàng Thị Ngọc Mai và cháu ngoại. Ảnh: Nguyễn Vân |
Đêm đã khuya, gió lạnh ùa về, anh Liêu nhìn vợ đang nằm trên giường. Vợ anh, chị Hoàng Thị Ngọc Mai sau 7 năm điều trị ở các bệnh viện mới về nhà một thời gian (phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).
Căn bệnh quái ác, sau ba lần mổ phải cắt đi ba phần tư phổi và sáu cái xương sườn, từ trọng lượng cơ thể 40kg giờ chỉ còn 15kg, rồi lên được 22kg thế là khá lắm rồi. Chị đang nằm bất động giữa giường nhỏ nhoi như một đứa trẻ. Nghiêm Khắc Liêu đắp lên người vợ thêm một chiếc chăn bông nữa, tai chị bị điếc hoàn toàn nên chẳng hiểu ngoài trời đang diễn ra cái gì để mà nói.
Đêm ấy Liêu không sao chợp mắt được. Những năm tháng quá khứ hiện lên trong óc anh. Ai cũng biết khúc ruột miền Trung ngày xưa khó khăn nhiều bề, quê anh làng Đức Duyên, Đức Thọ, Hà Tĩnh ở trong hoàn cảnh đó. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thôi thúc anh lên đường nhập ngũ. Anh được lựa chọn vào chiến trường miền Nam từ đầu thập kỷ 60. Tám tháng hành quân gian truân đói rét, bệnh tật, nhưng anh đã vượt qua tất cả. Xuyên dãy Trường Sơn, không có đường, cứ xuyên rừng mà tới. Ngày ấy anh đã làm thơ để ghi nhớ những gian nan vất vả: Chúng ta đi chưa có đường Trường Sơn/ Vừa phải đi vừa tìm đường về phía trước/ Có những lúc như đang đi ngược/ Đi bằng đầu nhưng lại bước bằng chân.
Đau đớn thay tin sét đánh ngang tai làm Liêu tưởng chừng không đứng vững. Giặc Mỹ đã ném bom giết hại 300 đồng bào làng Đức Duyên, trong đó có bố mẹ và 7 anh chị em của Liêu. Căm thù trút lên ngọn súng, rất nhiều trận đánh, đạn 12,7mm của anh cứ vây lấy máy bay lên thẳng, máy bay phản lực của Mỹ... Anh có cảm giác lúc này đây đang có bóng hình của cha mẹ, anh chị em thúc giục anh hãy đánh mạnh, đánh kiên quyết hơn nữa.
Đất nước hoàn toàn giải phóng, anh được gặp lại hai đứa em còn sống sót lại sau chiến tranh. Anh em đoàn tụ cũng làm giảm một phần nỗi đau mất cha, mất mẹ. Anh gặp cô gái Hoàng Thị Ngọc Mai, trung sĩ thông tin tiêu đồ của Quân chủng Không quân (nay là Quân chủng Phòng không-Không quân). Bố hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ đi bước nữa; cuộc đời của Mai cũng đơn côi, nhiều nỗi vất vả chả khác gì hoàn cảnh của Liêu. Cô từ chối đi học ở nước ngoài để về công tác tại Trường đại học Bách Khoa. Hai hoàn cảnh giống nhau đã giúp họ đồng cảm, thương yêu nhau và nên vợ nên chồng. Hai đứa con ra đời, cuộc sống thêm nở hoa, nhưng chẳng được bao lâu thì tai họa lại ập đến. Bốn lần bị thương, mảnh đạn còn găm ở đầu, ở cổ, ở vai anh, mỗi lúc thời tiết thay đổi là một lần đau buốt. Bây giờ chỉ còn có trí tuệ và lòng quyết tâm của người chiến sĩ. Vợ anh lâm bệnh nặng, phẫu thuật nhiều lần. Anh tự động viên mình hãy vượt lên bệnh tật và khó khăn để cứu vợ, nuôi con.
Với chiếc xe đạp ngày ngày anh vượt chặng đường cả đi lẫn về gần 50km buôn gà kiếm đồng lãi trang trải thuốc thang cho vợ.
Mùa hè mồ hôi vã ra ướt áo, mặt đỏ gay vì say nắng, có lúc tưởng chừng quỵ xuống, nhưng cứ nghĩ đến vợ và hai đứa con đang gửi hàng xóm, chúng nó đang mong bố về, thế là anh lại gắng sức. Anh đi vớt bèo cái, bèo tây đem ra chợ bán cho người chăn nuôi. Anh nuôi hai con lợn nái, một năm được bốn lứa lợn con. Anh còn nuôi gà tre, nuôi ngan, trồng rau, trồng hoa, tranh thủ “tấc đất tấc vàng” để làm ra đồng tiền chân chính.
Suốt ngày lao động, anh vừa lo cho con ăn học, vừa hàng ngày vào viện chăm sóc vợ. Bảy năm liền anh cố gắng đến tột độ. Nhiều đêm anh trằn trọc suy nghĩ, nếu cứ làm như thế này thì ốm mất, nếu mình ốm, vợ và con sẽ ra sao? Anh tìm cách tăng năng suất chăn nuôi để tăng thu nhập, bỏ hẳn việc đi chợ tìm kiếm bèo ở các nơi để bán, vì những việc này hao phí quá nhiều sức khỏe.
Anh đi các nơi học hỏi kinh nghiệm nuôi ngan, nuôi gà và nhất là gà Tre, loại gà đang bán được giá. Đi xa học hỏi là một việc, còn mình phải nghiên cứu sáng tạo, phải tự tổng kết lấy kinh nghiệm chăn nuôi. Theo dõi khá kỹ quả trứng ngan từ lúc mới đẻ cho đến khi ngan con nở ra, bây giờ nhìn quả trứng ngan mới đẻ anh có thể biết ngay quả này cho ấp có nở ra ngan con hay không, hoặc nhìn quả trứng đang ấp dở có thể biết quả trứng này đã ấp được bao nhiêu ngày rồi, trứng nở ra sẽ là ngan đực hay ngan cái. Đàn gà Tre của anh kể cả mái lẫn trống đều nhỏ xíu, trông rất đẹp mắt và đặc biệt là loại gà thuần chủng, tuy nhỏ nhưng những chú gà trống trông cũng rất oai, vệ, mào đỏ tai tía, vươn cái cổ lên cất cao tiếng gáy để khoe mẽ với các cô gà mái đang dậy thì.
|
Bài dự thi viết về đề tài thương binh, liệt sĩ và người có công, với chủ đề: “Ngời sáng đạo lý uống nước nhớ nguồn”
Hưởng ứng cuộc thi viết về đề tài thương binh, liệt sĩ và người có công, với chủ đề “Ngời sáng đạo lý uống nước nhớ nguồn” do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với báo Quân đội nhân dân, phát động ngày 27-3-2007. Đến nay, riêng báo Quân đội nhân dân đã nhận được gần 80 bài dự thi của 64 tác giả, là nhà báo, cộng tác viên, bạn đọc từ khắp mọi miền Tổ quốc gửi về, có tác giả gửi 1 bài, có tác giả gửi nhiều bài (điển hình như CCB Nguyễn Ngọc Thường ở Thái Bình, gửi 7 bài):
Vũ Đạt, Hồng Vân, Trần Thị Mây Lai, Nguyễn Ngọc Thường, Nguyễn Thị Tâm Bắc, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Thụ, Vũ Tâm, Nguyễn Khắc Luân, Nguyễn Hùng Phong, Lê Mậu Lâm, Trung Thông, Nguyễn Khang, Văn Cương, Ngô Văn Học, Hồ Ngọc Diệp, Lê Huy Tập, Nguyễn Tất Trung, Xuân Phong, Phạm Xưởng, Nguyễn Huy Mợi, Tạ Ngọc Hà, Quốc Biên, Đồng Sĩ Tài, Nguyễn Văn Chính, Phạm Văn Sửu, Tú An, Nguyễn Đăng Chương, Trần Văn Kỷ, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Mạnh Đam, Xuân Vui, Nguyễn Văn Hợi, Thuận Thắng, Phạm Như Hùng, Vũ Quang Tứ, Phó Đức Khang, Phạm Như Hà, Đinh Quang Huy, Ngọc Huân, Phan Văn Hồng, Đào Huyết, Dương Tử, Nguyễn Anh Dũng, Lê Reo, Xuân Sinh, Nguyễn Gia Phong, Nguyễn Tất Trung, Phạm Ngọc Khẳnh, Thanh Thủy, Nguyễn Công Dũng, Dương Hải Ngọc, Thảo Tình, Hồ Quang Phương, Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Bảo, Vĩnh Niên, Lê Hoài Nam, Phan Trung Kiên, Nguyễn Quang, Nguyễn Thế Dương, Hà Ngọc Thắng, Lê Trung Kiên, Văn Học.
Đến nay, có 9 bài dự thi đã đăng trên báo Quân đội nhân dân, đó là các bài “Điều không thể mất” (Vũ Đạt, Hồng Vân), “Chị Hà Nhật” (Vũ Tâm), “Linh hồn đồng đội vẫy gọi” (Nguyễn Ngọc Thường), “Vua ếch” (Ngô Văn Học), “Mũi trưởng” (Phạm Xưởng), “Trong cõi tâm linh” (Xuân Vui), “Chị Hồng” (Hồng Vân) “Lửa nhiệt tình đâu dễ nhạt phai” (Nguyễn Văn Hải), “34 mảnh băng đen trên vành nón bài thơ” (VĂN HỌC).
Ban tổ chức mong tiếp tục nhận được nhiều bài dự thi của các đồng chí và các bạn viết về đề tài thương binh, liệt sĩ và người có công, nhằm biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích đóng góp thiết thực trong các cuộc đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm tốt công tác chăm sóc người có công trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”.
Ban tổ chức cuộc thi |
Ngôi nhà của anh Liêu tuy nhỏ, ọp ẹp nhưng luôn có tiếng cười vui của các cháu học sinh ở các nơi đua nhau đến xem và mua gà về chơi. Anh yêu quý các cháu như con của mình cùng chuyện trò vui đùa với các cháu và đặc biệt không bao giờ bán đắt cho những “vị khách” quý này.
Sau bảy năm dài dằng dặc, chị Hoàng Thị Ngọc Mai đã ra viện và trở về với chồng con ở ngôi nhà bé nhỏ thân thương này. Đón vợ về lòng anh mừng lắm, sớm tối được nhìn thấy người vợ của mình và cũng bớt đi những ngày phải chạy từ viện nọ đến viện kia.
Bữa ăn nào cũng vậy, anh đều dành cho chị khẩu phần ngon nhất, nấu cho chị những món ăn mà chị ưa thích. Tai chị đã điếc hoàn toàn, không còn nghe thấy anh nói gì. Nhìn thấy cử chỉ ân cần của chồng trong bữa ăn mà nước mắt của chị cứ ứa ra. Còn anh thì thấy vợ khóc cổ cũng nghẹn lại, nhưng cố làm vui cho vơi bớt phần xúc động của vợ. Có lúc chị Mai ngồi một mình nhìn ra hồ nước tư lự và buồn lắm. Liêu biết vợ đang buồn, anh viết vào mảnh giấy hỏi vì sao em buồn thế? Chị Mai trả lời: “Em nhớ thời thanh xuân, những năm tháng sống trong quân đội, nhưng bây giờ chỉ còn có bệnh tật và nỗi gian truân của anh. Anh đã vất vả vì vợ, vì con. Anh có vợ mà hóa ra không có vợ”. Liêu an ủi vợ: “Em lo buồn là có hại cho sức khỏe, nhìn thấy em vượt qua bệnh tật và hai con đã trưởng thành là anh mừng lắm rồi”.
Mỗi lần có khách lạ đến nhà, người ta trông thấy chị nhanh chóng đi vào bếp đun nước, pha nước, mời khách rồi đi nơi khác không nói một lời. Anh Liêu thường phải xin lỗi khách thông cảm vì vợ không nghe được cả hai tai.
Địa phương đã giúp một số tiền cho anh chị sửa sang lại nhà cửa. Anh cảm ơn nhưng không nhận mà xin địa phương dùng số tiền này trợ cấp trước cho các gia đình khó khăn hơn gia đình anh.
Hai mươi năm trời sống ở phường có cái tên rất hay: “Thanh Nhàn”, nhưng Nghiêm Khắc Liêu thì chưa có ngày nào được thanh nhàn. Tuy khó khăn là vậy, anh vẫn là một cán bộ địa phương hoạt động trên nhiều lĩnh vực có hiệu quả. Bà con tin yêu anh, một người lính Cụ Hồ. Anh thuyết phục mọi người bằng tấm lòng và lời lẽ chân tình nên đã hòa giải thành công nhiều vụ việc, giữ được cái tình, cái nghĩa hàng xóm láng giềng.
Dòng sông Kim Ngưu chảy dài, hai bên kè đá đều đặn với hàng cây xanh tươi đu đưa theo chiều gió. Xe cộ đủ loại tấp nập ngược xuôi. Những đôi trai gái đi bộ trên bờ sông với quần áo đủ màu sắc. Chia tay anh tôi ra về bằng chiếc xe đạp điện chạy bon bon trên bờ sông, mà lòng thấy ấm lại, bởi cái nhà đơn sơ ấy có hai trái tim vàng của vợ chồng Nghiêm Khắc Liêu. Hai trái tim của hai người lính Cụ Hồ cùng chung nhịp đập, cùng quyết tâm vươn lên trong cuộc sống còn nhiều gian khó.
NGUYỄN THỤ