Chị sinh ra trên doi cát nơi cửa biển cuối nguồn dòng Lam. Với chị, mọi thứ ở cõi đời này
 |
|
Thắp hương trước mộ liệt sỹ. Ảnh: Internet |
chỉ là phù du, ngoại trừ một thứ chị tôn thờ: Tình yêu! Đó là thứ tình cảm chân thành và lãng mạn của người đã từng vào sinh ra tử, một thời xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Cũng vì tình yêu mà chị đã bỏ quên tuổi xuân trong mòn mỏi đợi chờ, bỏ quên cuộc đời trong những tháng ngày dài kiếm tìm nắm xương cốt của người yêu.
Chị Phùng Thị Huệ tiếp tôi trong ngôi nhà nhỏ nằm ở cuối bờ đê, thuộc xóm Hội Tiến, xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tôi gợi chuyện về những ngày tháng hào hùng cả dân tộc hành quân ra trận, thế rồi những kỷ như ùa về trong ký ức của chị và câu chuyện của chúng tôi bắt đầu tự nhiên như thế.
Ngày ấy cách đây đã hơn bốn mươi năm, chị là một cô gái vừa bước qua tuổi trăng tròn, như con chim sơn ca cất tiếng hót véo von giữa điệp trùng đoàn quân ra trận. Tạm biệt quê hương lên đường với những ước mơ đẹp đẽ, chị đâu có ngờ rằng, trong cuộc hành quân ấy, có một ánh mắt luôn dõi theo từng bước đi, từng cử chỉ của mình. Và khi ánh mắt ấy bắt gặp cái nhìn của chị, thì chính chị lại trở thành người bối rối... Mối tình đầu và cũng là mối tình duy nhất trong đời đến với chị lãng mạn và ngọt ngào như thế. Anh là người xã trên, cách nhà chị non chục cây số. Từ ngày có anh bước sóng đôi, nhịp chân chị nhẹ tênh trên những cung đường hành quân. Chị còn nhớ, sau hơn một tuần men theo những trảng rừng Trường Sơn nham nhở cháy bởi bom na-pan của Mỹ, đơn vị thanh niên xung phong của anh chị vượt phà Long Đại, trú quân ở phía nam sông Gianh, trên một quả đồi cao, phía dưới là con đường mòn huyền thoại ngày đêm những đoàn xe nối nhau rầm rập vào Nam. Máy bay do thám của Mỹ suốt ngày vo ve như đàn muỗi ở trên đầu...
Mối tình của chị lớn dần lên trong mưa bom bão đạn. Chị còn nhớ vào một đêm trăng, sau trận oanh kích của máy bay Mỹ, khi chỉ còn lại hai người trong chiếc hầm chữ A trú ẩn, anh đã thủ thỉ vào tai chị: "Nếu như anh bị thương mù cả hai mắt thì em cứ đi lấy chồng. Vì em xinh đẹp thế này mà lấy một thằng mù thì thiệt cả đời con gái". Chị đáp lại: "Nếu anh bị thương mù mắt thì càng phải lấy em, vì hình ảnh của em sẽ luôn trẻ đẹp trong anh. Khi sinh con, em sẽ kể cho anh nghe là con mình vừa giống bố, vừa giống mẹ, thế là anh vẫn nhìn thấy mặt con chứ sao?". Anh gục đầu vào ngực chị, ngủng ngoẳng như đứa trẻ lên ba.
Núi rừng Trường Sơn bàng bạc một màu trăng. Trong khung cảnh lung linh huyền diệu ấy, hai người đã nguyện thề lời ước hẹn đến ngày đất nước độc lập cũng sẽ là ngày anh chị cất tiếng hoan ca.
Đó là đêm cuối cùng của hai người ở chiến trường. Do tình trạng sức khỏe, chị phải lùi về tuyến sau, còn anh vẫn bám trụ ở chiến trường. Đến năm 1969, khi cả hai người đã hoàn thành nghĩa vụ “bốn năm sẵn sàng”, chị về quê tham gia phong trào đoàn thể địa phương, còn anh ra Bắc theo học ở Trường đại học Hàng hải, Hải Phòng. Hơn một năm sau, theo tiếng gọi của Tổ quốc, anh lại xung phong vào mặt trận lần thứ hai. Trước lúc lên đường, anh có về thăm quê, xin phép hai gia đình cưới chị làm vợ, nhưng chị không đồng ý, vì sợ cưới rồi bận bịu gia đình không tham gia được các phong trào của xã. Chị hứa với anh sẽ trọn đời chung thủy, mãi mãi một lòng đợi ngày đất nước độc lập đón anh về mới thực hiện lời hẹn ước năm nào giữa Trường Sơn. Anh trở lại trường và lên đường nhập ngũ trong đội hình Quân khu 3. Trên đường vào Nam, khi xe qua phà Bến Thủy, chị tình cờ đi Vinh về và đã gặp anh. Anh chỉ kịp nói với chị một câu: “Anh đi ba năm rồi về, em chờ anh nhé!”. Chị nghẹn ngào trong nước mắt: “Ba năm, hay mười năm, hay hai mươi năm, hay cả cuộc đời, em vẫn chờ anh!”. Đó là lần gặp cuối cùng của hai người, anh ra đi và mãi mãi không về với chị nữa.
Chị mân mê gói kỷ vật của anh để lại. Chị nhẩm tính, năm đầu ở chiến trường, anh đã gửi cho chị cả thảy 21 lá thư nồng nàn yêu thương. Những năm tiếp theo, hai người hoàn toàn mất liên lạc. Chị nghĩ vì lý do bí mật nên anh không thể liên lạc với chị, vì càng sắp đến ngày toàn thắng, chiến trường càng trở nên ác liệt, cam go. Trong thâm tâm, chị tin ngày chiến thắng anh sẽ trở về với chị. Nhưng niềm tin của chị bỗng trở nên vô vọng, khi gia đình anh nhận được giấy báo tử anh. Những con chữ li ti như đàn kiến đốt nhói tim gan chị: “Liệt sĩ Đặng Xuân Thọ; nguyên quán: Xuân Giang, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; chức vụ: trung đội trưởng; đơn vị: thuộc NB; hy sinh ngày 26 tháng 1 năm 1973, tại mặt trận phía Nam; thi hài mai táng tại khu vực riêng của đơn vị gần mặt trận…”. Đất như sụt dưới chân chị. Mảnh giấy nghiệt ngã ấy đã quật ngã chị, niềm tin lớn nhất trong đời chị phút chốc tan tành như bọt biển khơi xa. Trên chiếc nón bài thơ của chị xuất hiện mảnh tang đen thứ nhất. Trước vong linh của anh, chị hứa sẽ tìm được hài cốt anh về quê mẹ, chừng nào chưa tìm được coi như chị chưa mãn tang anh, vì thế cứ đến dịp 27-7 mỗi năm, trên chiếc nón của chị lại xuất hiện thêm một mảnh tang đen như thế.
Chị sống bằng hồi ức kỷ niệm từ những trang nhật ký và 21 lá thư của anh để lại còn khét mùi khói súng chiến trường. Cha mẹ chị, bà con xóm giềng động viên chị đi lấy chồng. Nhưng chị đã khước từ mọi lời cầu hôn, bởi một nỗi dằn vặt, chị cho rằng mình là người có lỗi với anh, vì đã không đồng ý để anh cưới chị trước lúc lên đường, không kịp lưu lại giọt máu đích tôn cho gia đình họ Đặng. Chị cứ sống trong suy luận, trong ân hận, trong sự giày vò nuối tiếc khôn nguôi và tự coi mình là gái đã có chồng, nguyện sẽ đi tìm hài cốt của anh và nguyện sẽ ở vậy thờ anh tròn tiết nghĩa. Chị không còn nhớ đã bao nhiêu đêm thổn thức bởi những tiếng gõ cửa trong đêm. Mỗi lần như thế, chị lại nhớ tới những dòng lưu bút của anh, và chị đã bỏ quên tuổi xuân của mình đi qua trong mỏi mòn mong nhớ. Chị cũng không còn nhớ đã bao nhiều lần trở lại chiến trường xưa, bàn chân chị đã dừng lại ở bao nhiêu phần mộ trong các nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị. Chỉ biết rằng, cứ dành dụm được một ít tiền là chị lại khăn gói lên đường. Chỉ biết rằng, nước mắt chị không còn để khóc trước bao đồng đội dưới những nấm mồ trong các nghĩa trang liệt sĩ mà trên những tấm bia còn để trống dòng tên.
|
Chị sống bằng hồi ức kỷ niệm từ những trang nhật ký và 21 lá thư của anh để lại còn khét mùi khói súng chiến trường. Cha mẹ chị, bà con xóm giềng động viên chị đi lấy chồng. Nhưng chị đã khước từ mọi lời cầu hôn, bởi một nỗi dằn vặt, chị cho rằng mình là người có lỗi với anh, vì đã không đồng ý để anh cưới chị trước lúc lên đường, không kịp lưu lại giọt máu đích tôn cho gia đình họ Đặng. Chị cứ sống trong suy luận, trong ân hận, trong sự giày vò nuối tiếc khôn nguôi và tự coi mình là gái đã có chồng, nguyện sẽ đi tìm hài cốt của anh và nguyện sẽ ở vậy thờ anh tròn tiết nghĩa. |
Phía gia cảnh của liệt sĩ Thọ cũng hết sức éo le, anh có 3 chị gái và một đứa em trai. Đứa em trai và mẹ anh đã mất vì bom Mỹ, khi anh đang ở chiến trường. Khi hay tin anh hy sinh, bố anh không chịu đựng nổi nỗi mất mát quá lớn, nên một thời gian sau cũng qua đời. Ba chị gái đều đi lấy chồng xa, chẳng có ai hương khói ở từ đường nhà anh. Vì thế cứ đến ngày giỗ chạp, chị lại lọc cọc đạp xe non chục cây số với đồ lễ đến thắp hương bên nhà họ Đặng. Nhân dân trong vùng ai cũng cảm thương. Các chị gái của liệt sĩ Thọ nhắn về bảo chị nên về nhà họ Đặng ở, trông coi chăm sóc hương khói cho gia tộc như đứa con dâu trong gia đình. Một phần chị sợ thế gian dị nghị, một phần căn nhà của ông bà đã quá dột nát, nên chị xin phép đưa ba bát hương trên bàn thờ nhà họ Đặng về thờ ở nhà mình, chị coi như mình đã chính thức cưới chồng, chính thức làm dâu và làm vợ người đã khuất. Chị vẫn đau đáu một niềm tin đến một ngày nào đó sẽ tìm được mộ anh, và chị sẽ dành dụm được ít tiền xây một gian nhà nhỏ trên đất nhà họ Đặng làm nơi thờ tự bố mẹ chồng và "vợ chồng" chị khi chị về với anh ở thế giới bên kia. Không biết niềm ước vọng thiêng liêng ấy có trở thành thực hiện hay không, khi hiện nay chị chỉ sống dựa vào 370 nghìn đồng tiền trợ cấp thanh niên xung phong mỗi tháng, khi những di chứng ở chiến trường và căn bệnh đau tim đang ngày đêm hành hạ chị?
Đã sắp đến ngày kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Bên bậu cửa đã sờn, dáng chị nghiêng nghiêng trong nắng chiều, tay run run khâu chiếc băng tang thứ 34 lên chiếc nón bài thơ của mình mà đau đáu trong tim. Tôi cứ mong sao qua bài báo này nếu ai từng là đồng đội của anh Thọ, nếu ai biết phần mộ của anh Thọ mà thông tin cho chị Huệ thì ý nghĩa biết nhường nào! Vâng, chị Phùng Thị Huệ, ở xóm Hội Tiến, xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh luôn ngóng chờ những thông tin ấy.
VĂN HỌC