Nhiều đại biểu cho rằng, với sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương, ngành nông nghiệp của đất nước đã có sự chuyển biến đáng kể, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng những sản phẩm có giá trị, mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa, nhiều mô hình liên kết sản xuất trong nông nghiệp đã được hình thành và phát huy hiệu quả.
Các đại biểu đánh giá, sau hơn 2 năm thực hiện, Đề án tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã đạt được hiệu quả bước đầu. Tuy nhiên, đời sống của gần 70% cư dân nông thôn còn rất nhiều khó khăn, dư địa của ngành nông nghiệp rất lớn nhưng chưa thấy động lực cho phát triển nông nghiệp. Để phát triển nông nghiệp có rất nhiều việc phải làm, từ công tác quy hoạch đất đai, quy hoạch thủy lợi, giao thông đến quy hoạch nội bộ trong ngành trên từng lĩnh vực đến việc ứng dụng khoa học công nghệ tổ chức sản xuất, nhân lực, chế biến, thị trường, quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện.
Quốc hội thảo luận về vấn đề kinh tế-xã hội, tái cơ cấu kinh tế ngày 3-11. Ảnh: quochoi.vn.
Tháo "điểm nghẽn" trong phát triển kinh tế nông nghiệp
Nhiều đại biểu cho rằng cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, trong đó, cần tập trung ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào lĩnh vực nông nghiệp; có cơ chế chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tư; đẩy mạnh phát triển các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác nông nghiệp kiểu mới để tiêu thụ sản phẩm cho nông dân; kiểm soát chặt chẽ các chất hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật để tạo nên nền nông nghiệp sạch...
Đại biểu Nguyễn Thị Thanh (Ninh Bình) nhận định: Hiện sản xuất nông nghiệp còn sử dụng nhiều yếu tố đầu vào, như tài nguyên đất, nước, nhân công, việc sử dụng nhiều phân bón, hóa chất khác tác động xấu đến môi trường, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Chưa bao giờ môi trường nông thôn, vệ sinh an toàn thực phẩm lại trở thành vấn đề nóng, bức xúc như hiện nay. Để phát triển nông nghiệp xanh và bền vững, đại biểu đề nghị cần đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp theo hướng tăng giá trị, giảm đầu vào, quan tâm đến bảo quản sau thu hoạch, chế biến, thương hiệu, coi trọng giá trị dinh dưỡng và yếu tố thực phẩm chức năng từ các sản phẩm nông nghiệp.
Về cơ chế chính sách, theo đại biểu Nguyễn Thị Thanh, Chính phủ cần tổng kết, nghiên cứu đưa ra những chính sách mới tạo động lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng ưu tiên, đào tạo nhân lực, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm thành công của một số mô hình sản xuất có hiệu quả trong nông nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách quan tâm, hỗ trợ sản phẩm đầu ra có lợi thế quốc gia, lợi thế địa phương, có yếu tố thị trường, có giá trị kinh tế cao, giảm yếu tố đầu vào. Ở những địa phương vùng sâu, vùng xa, cần áp dụng cơ chế thuế phí ở mức thấp nhất hoặc miễn, đặc biệt là các chính sách về đất đai vì theo đại biểu, đây chính là "điểm nghẽn" trong phát triển kinh tế nông nghiệp.
Đại biểu Nguyễn Thị Thanh cho rằng: Việc tích tụ tập trung ruộng đất đã, đang diễn ra với nhiều hình thức, bước đi khá đa dạng. Mặc dù quá trình tích tụ, tập trung đang diễn ra đúng hướng nhưng thiếu những định hướng và hành lang pháp lý của nhà nước, do vậy tình trạng sản xuất manh mún vẫn còn phổ biến trong nông thôn. Điều này hạn chế thực hiện cơ giới hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ cũng như phát huy lợi thế nền kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp; khiến không ít người nông dân ít đầu tư vào nông nghiệp, có xu hướng chuyển vốn sang đầu tư ở các lĩnh vực khác hoặc không sản xuất nhưng vẫn giữ ruộng để phòng cơ.
Đại biểu nhấn mạnh, để thúc đẩy quá trình này, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn nói chung, chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất nói riêng. Điều quan trọng là để chính cán bộ và người dân thấy được sự cần thiết, lợi ích của tích tụ ruộng đất trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo đó, Nhà nước cần có cơ chế động viên, hướng dẫn cách làm ăn có hiệu quả qua tích tụ tập trung ruộng đất; gắn quá trình tập trung ruộng đất với cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lại lao động ở từng địa phương, lĩnh vực trên phạm vi cả nước, trên cơ sở đó giải quyết được việc làm cho lao động dôi dư, nâng cao năng suất lao động; xây dựng các chính sách phù hợp trong thị trường chuyển nhượng, cho thuê đất, tạo hành lang pháp lý về đất đai với thủ tục đơn giản, thuận lợi, chi phí thấp.
Đại biểu cho rằng: Cần phải đổi mới tư duy trong chương trình hành động về nông nghiệp nông thôn, trong đó nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, doanh nghiệp là trung tâm, nhà khoa học là đồng hành, nông dân là chủ thể. Đồng thời, cần đầu tư thỏa đáng cho phát triển nông nghiệp và điều quan trọng là phải thay đổi cách thức đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là cơ sở hạ tầng thủy lợi bảo đảm hiệu quả, phù hợp với từng công trình, từng địa phương.
Còn đại biểu Đoàn Văn Việt (Lâm Đồng) đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu để có những chính sách mạnh mẽ hơn trong việc thu hút doanh nghiệp tập trung đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp theo Nghị định 210 của Chính phủ. Đồng thời, tập trung ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ về sinh học, để đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành nông nghiệp, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích và nhấn mạnh đây chính là sự khác biệt rất lớn trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, theo đại biểu tỉnh Lâm Đồng, bên cạnh sự chủ động của các doanh nghiệp, hợp tác xã, chính quyền các địa phương, Chính phủ cần xây dựng các cơ chế, chính sách, lộ trình cụ thể để hỗ trợ, xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản tại thị trường trong nước và quốc tế; nghiên cứu các chính sách để khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức tín dụng cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp; xây dựng liên kết, gắn kết giữa nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp trong việc cung cấp kịp thời và hiệu quả, đặc biệt là về giống. Đồng thời, do điều kiện hạn hán thường xuyên xảy ra do biến đổi khí hậu, cần quan tâm đầu tư hạ tầng thủy lợi, tăng nguồn vốn cho đầu tư nâng cấp các hồ đập; cần có chính sách hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp trong việc làm hồ, đập thủy lợi nhỏ và có chính sách tín dụng cho vay vốn để thay đổi công nghệ tưới tiết kiệm như tưới nhỏ giọt, tưới phun. Đây là giải pháp quan trọng trong tình hình khô hạn trong thời gian vừa qua.
Còn đại biểu Nguyễn Thanh Xuân (Cần Thơ) cho rằng, cần tái cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp, tăng đầu tư cho vùng kinh tế trọng điểm, nông nghiệp chất lượng cao, quy hoạch vùng, liên kết vùng và theo kế hoạch thì giai đoạn mới của tái cơ cấu kinh tế, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế, nhân rộng mô hình hiệu quả và nâng cấp hệ thống khuyến nông tập trung ưu tiên vốn cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.
Ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Trong phiên thảo luận về nội dung kinh tế-xã hội tại Quốc hội, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến đã giải trình, làm rõ những vấn đề mà các đại biểu quan tâm về thực trạng kinh tế-xã hội, những khó khăn, bất cập trong sản xuất, đời sống của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cho rằng, các ý kiến của các đại biểu Quốc hội về thực trạng kinh tế-xã hội, những khó khăn, bất cập trong sản xuất, đời sống, giáo dục, y tế, văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đúng thực tế, rất xác đáng và thật lòng. Nhiều đại biểu đã phân tích rất sâu sắc về nguyên nhân và đề ra giải pháp.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến làm rõ những vấn đề mà các đại biểu quan tâm về đời sống của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ảnh: chinhphu.vn.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cho biết: Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Dân tộc đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức tổng kết đánh giá kết quả thực hiện các chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2015, đánh giá đúng kết quả đạt được; chỉ ra hạn chế, bất cập, nguyên nhân, để làm cơ sở xây dựng chính sách giai đoạn 2016-2020. Đồng thời, Ủy ban đã tổng điều tra đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội của 53 dân tộc thiểu số đến từng xã và đến từng dân tộc. Đây là việc làm lần đầu tiên trong lịch sử công tác quản lý dân tộc để có cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ cho công tác quản lý và hoạch định chính sách.
Đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách rất quan trọng cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020, trong đó có chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình giảm nghèo bền vững và nhiều chính sách đặc thù khác... Tuy nhiên, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cũng cho rằng, đến nay dù đã có bước phát triển nhất định song vùng dân tộc miền núi vẫn còn là những vùng khó khăn nhất cả nước. Tỉ lệ hộ nghèo cao gấp hơn 3 lần so với bình quân chung cả nước. Nhiều tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo rất cao (Điện Biên 48%, Sơn La 47,8%, Hà Giang 43,6%, Cao Bằng 42,3%, Lai Châu trên 40%, Kon Tum trên 26%...). Tỉ lệ hộ nghèo cao, thiên tai dịch bệnh, thiếu việc làm, thu nhập thấp, tỉ lệ trẻ em bỏ học cao… vẫn đang là những thách thức rất lớn cần phải tập trung giải quyết.
Theo ông Đỗ Văn Chiến, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước, nhưng lại sinh sống chủ yếu ở nơi khó khăn nhất. Trong đó, trên 8 triệu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng biên giới, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, đất rộng, người thưa, nhu cầu về vốn đầu tư rất lớn mà ngân sách Nhà nước đang rất khó khăn.
Ông Đỗ Văn Chiến cho biết, qua quá trình tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách dân tộc, miền núi giai đoạn 2011-2015, Ủy ban Dân tộc đã tham mưu cho Chính phủ điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Từ chỗ hỗ trợ cho hộ gia đình sang hỗ trợ cho cộng đồng và tạo sinh kế để khắc phục dần tình trạng không hộ nào chịu thoát nghèo. Từ cho không sang cho vay với lãi suất ưu đãi, khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại. Từ hỗ trợ dài hạn sang hỗ trợ có điều kiện sau 3 đến 5 năm phải cam kết thoát nghèo. Những người không còn sức lao động, già cả, cô đơn và tàn tật sẽ được hưởng các chính sách xã hội, số còn lại phải vươn lên thoát nghèo.
NGUYỄN THẢO