Trong hoàn cảnh nước ta vừa giành được độc lập, Nhà nước còn non trẻ, lại có “thù trong giặc ngoài”, vận mệnh dân tộc ở vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng Hiến pháp 1946 đã thể hiện được tư tưởng tiến bộ, cách mạng, vì con người, đại đoàn kết toàn dân tộc, có những giá trị vượt thời gian, được kế thừa trong các bản Hiến pháp sau này, đặc biệt là Hiến pháp 2013.

Thể hiện tư tưởng tự do và dân chủ

Hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam và kỷ niệm 70 năm Hiến pháp 1946 (9-11-1946/9-11-2016), Văn phòng Quốc hội vừa tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “70 năm Hiến pháp Việt Nam”.

Thông tin tại hội thảo cho biết, sau khi được thành lập, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ xây dựng tổ chức Nhà nước, tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội để xây dựng cho Việt Nam một Hiến pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”. Đây có thể được xem là tuyên bố lập hiến của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Thực hiện lời tuyên bố đó, ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã diễn ra thắng lợi trên toàn quốc. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, Quốc hội đã bầu ra Ban dự thảo Hiến pháp và 8 tháng sau, vào ngày 9-11-1946, tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đặt nền tảng chính trị, pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam mới. Với ý nghĩa đó, ngày 9-11 hằng năm đã được Quốc hội nước ta ấn định là Ngày Pháp luật Việt Nam để kỷ niệm ngày ra đời của bản Hiến pháp đầu tiên và để khẳng định vị trí thượng tôn của pháp luật trong đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành, bảo vệ pháp luật tại Việt Nam và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta.

70 năm nhìn lại, các lãnh đạo, nhà nghiên cứu đều bày tỏ sự khâm phục những tư tưởng tiến bộ về pháp quyền, dân chủ, quyền con người, cùng kỹ thuật lập pháp hết sức khoa học của Hiến pháp 1946.

Phát biểu đề dẫn tại hội thảo, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh, Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới. Về nội dung, Hiến pháp 1946 thể hiện rõ tư tưởng pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh; về kỹ thuật lập pháp, Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích, toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều, trong đó có những điều chỉ vẻn vẹn có một dòng. Hiến pháp 1946 đã tiếp thu có chọn lọc các hiến pháp dân chủ và tiến bộ của các nước, đồng thời đã Việt hóa một cách tối đa cho phù hợp với điều kiện của nước ta.

Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân

PGS, TS Đặng Minh Tuấn, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho hay: Phần lớn các học giả nước ngoài đều đánh giá rằng Hiến pháp 1946 chứa đựng các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trên thế giới. Theo đó, Giáo sư (GS) Mark Sidel-GS luật của Mỹ, người đã có nhiều nghiên cứu về Hiến pháp của Việt Nam-coi Hiến pháp 1946 là một bản “Hiến chương cho độc lập và thống nhất”, đặt ra nhiệm vụ thống nhất đất nước và quy định các nguyên tắc dân chủ. Ngay từ lời nói đầu, Hiến pháp 1946 đã nhấn mạnh vai trò của cuộc cách mạng trong việc “giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và tạo ra nền dân chủ cộng hòa”, “thoát khỏi chính sách thực dân, gạt bỏ chế độ phong kiến”, xác định rõ nhiệm vụ “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, “đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo” và “đảm bảo các quyền tự do dân chủ”. Hiến pháp 1946 cũng khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. GS Mark Sidel cho rằng, một trong những quy định nổi tiếng nhất là quy định về phúc quyết. Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, trong đó các vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân nếu 2/3 tổng số nghị viện đồng ý. Về tòa án, theo GS Mark Sidel, Hiến pháp 1946 đã có các quy định mang tính dân chủ trong quy trình tư pháp như: Quy định về vai trò của phụ thẩm nhân dân, về việc không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và phạm nhân (Điều 65, Điều 68).

Cũng theo PGS, TS Đặng Minh Tuấn, Jean-Marie Crouzatier, một GS luật của Pháp đã đánh giá, Hiến pháp 1946 có mục tiêu phù hợp tối đa nguyện vọng của đa số người dân, trong đó quy định về các quyền: Chính trị, kinh tế, xã hội; kêu gọi các lực lượng đoàn kết chống lại chế độ thuộc địa và phong kiến; bảo đảm vai trò của người dân thông qua quyền phúc quyết toàn dân (Điều 32); quyền của nhân dân trong việc bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra (Điều 20); thiết lập chế độ chịu trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội; thiết lập một nghị viện có nhiệm kỳ ngắn (3 năm).  

Theo GS, TS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, các bản hiến pháp sau này, đặc biệt là Hiến pháp 2013 đã kế thừa và phát triển nhiều nội dung và kỹ thuật lập hiến của Hiến pháp 1946, trong số đó có nguyên tắc “tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Hiến pháp 2013 đã long trọng tuyên bố ở lời nói đầu rằng: “Nhân dân là chủ thể xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này”. Hiến pháp 2013 không những quy định nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, mà còn bằng các hình thức dân chủ trực tiếp (Điều 6), bằng biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trong đó có trưng cầu ý dân về Hiến pháp (Điều 29 và Điều 120).

Ý kiến của đại biểu tại Hội thảo “70 năm Hiến pháp Việt Nam” cho rằng, điểm nổi bật của mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước trong Hiến pháp 1946 là đề cao vai trò của nghị viện nhân dân, cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước, nhấn mạnh vai trò của nghị viện trong việc giám sát Chính phủ; đề cao tính độc lập của hệ thống tòa án-cơ quan tư pháp; phân quyền rõ nét và hợp lý cho chính quyền địa phương… Mặc dù những quy định này chưa được tổ chức kiểm nghiệm nhiều trên thực tế do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ đất nước có chiến tranh nhưng tinh thần, tư tưởng và giá trị của nó đã được đặt ra và kế thừa trong quá trình xây dựng Hiến pháp 2013.

Quyền con người được bảo đảm

Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong Hiến pháp 1946, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của con người được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm, cũng là lần đầu tiên người dân Việt Nam được xác nhận có tư cách công dân của một nước độc lập, có chủ quyền. Trong số 7 chương của bản Hiến pháp 1946 thì chương về “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” được xếp thứ hai, gồm 18 điều, trong đó có 16 điều trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam. Theo nghiên cứu của PGS, TS Vũ Công Giao và nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Tâm, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, thì mặc dù không đề cập đến khái niệm quyền con người, song về bản chất, các quyền công dân trong Hiến pháp 1946 cũng chính là các quyền con người mà sau đó được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 và hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966. Các quyền lợi của công dân được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp 1946 trải rộng trên tất cả các lĩnh vực: Dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, bao gồm tất cả các quyền cá nhân và quyền của nhóm. Ví dụ như, quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa và trước pháp luật (Điều 6, Điều 7, Điều 9); quyền được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc (Điều 7); quyền tự do ngôn luận (Điều 10); quyền không bị bắt bớ, giam cầm tùy tiện (Điều 1); quyền bình đẳng của phụ nữ với đàn ông (Điều 9); quyền của trẻ em được giáo dưỡng (Điều 14), được học tiểu học miễn phí và được trợ giúp (với trẻ em nghèo) (Điều 15)...

Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho biết, nội dung về quyền công dân trong Hiến pháp 1946 đã được nghiên cứu, tiếp thu tương đối nhiều trong quá trình xây dựng Hiến pháp 2013, từ nội dung của từng quy định của Hiến pháp cho đến cấu trúc, vị trí của chương về quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp. Về vấn đề này, PGS, TS Vũ Công Giao nêu ví dụ quyền tư hữu tài sản được ghi nhận trong Hiến pháp 1946, sau đó được ghi nhận lại trong Hiến pháp 1992 và nhấn mạnh trong Hiến pháp 2013. Không những thế, so với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 2013 còn phát triển hơn một số vấn đề liên quan đến quyền công dân, quyền con người. Ví dụ, Hiến pháp 2013 sử dụng cả hai thuật ngữ “quyền con người” và “quyền công dân”. Điều này cho phép ghi nhận và bảo đảm các quyền con người một cách cụ thể và chính xác hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn của luật quốc tế. Hiến pháp 2013 đã ghi nhận nhiều quyền mới, bao gồm: Quyền của công dân không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác; quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền riêng tư; quyền bảo vệ danh dự, uy tín; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tự do báo chí, tiếp cận thông tin, biểu tình...          

Kỷ niệm 70 năm thông qua Hiến pháp 1946, nhìn lại các nội dung tiến bộ vượt thời gian của bản Hiến pháp này, chúng ta thấy rõ được tầm vóc trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những thành viên của Ban dự thảo Hiến pháp 1946. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu kế thừa những tư tưởng tiến bộ của Hiến pháp 1946, nhanh chóng cụ thể hóa nội dung của Hiến pháp 2013 thành các bộ luật, luật có ý nghĩa rất quan trọng để đất nước ta xây dựng, hoàn thiện Nhà nước thượng tôn pháp luật, “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 HỒ QUANG PHƯƠNG