Đồng chí tham gia cách mạng từ những năm ba mươi của thế kỷ trước; năm 1934, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương; hai lần bị thực dân Pháp bắt; bị kết án nhiều năm tù và đày đi Côn Đảo. Đồng chí là vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam và từng trải qua nhiều cương vị công tác: Ủy viên Trung ương Đảng khóa III và khóa IV; đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI; Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây, Hà Đông; Bí thư liên tỉnh (Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam); Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559, Thứ trưởng Bộ Công an…; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Phó thủ tướng Chính phủ.

Vùng Hà Đông-Sơn Tây-Hà Nội (nay là Hà Nội) có truyền thống cách mạng ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Phan Trọng Tuệ bắt đầu sự nghiệp và trưởng thành từ miền quê cách mạng đó. Năm 1935, Phan Trọng Tuệ tham gia chỉ huy cuộc mít tinh phản đối thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nên bị nhà cầm quyền Pháp bắt giam. Ra tù, Phan Trọng Tuệ nhanh chóng liên lạc với các đồng chí của mình, khôi phục các tổ chức cơ sở cách mạng. Tháng 8-1936, “Tổ đảng viên cộng sản Đa Phúc” được thành lập bí mật tại nhà Phan Trọng Tuệ với ba thành viên chủ chốt là Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Thọ, Đào Văn Tiễu; hăng hái hoạt động, vận động và giác ngộ quần chúng, trang bị cho quần chúng tinh thần yêu nước và cách mạng.

Năm 1937, đồng chí Phan Trọng Tuệ trực tiếp phụ trách Chi bộ Đảng xã Sài Sơn và có mối liên lạc với Thành ủy Hà Nội; sau đó được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây và Hà Đông; đồng thời, được Đảng phân công theo dõi tình hình ở Hà Nội-Hà Đông-Sơn Tây; năm 1941, là Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, phụ trách cụm Liên Tỉnh ủy Hà Nội-Hà Đông-Sơn Tây-Hà Nam. Cuối năm 1941, đồng chí được bầu làm Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách công tác binh vận của xứ ủy. Tháng 9-1943, đồng chí lại bị thực dân Pháp bắt trong lúc đang công tác tại Hà Nam và bị giam tại Nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội; bị tòa án thực dân kết án 27 năm tù và đày đi giam tại Côn Đảo.

Tại Côn Đảo, Phan Trọng Tuệ tham gia Ban trật tự của các tù nhân là cộng sản; đồng thời là Chi ủy viên Khối tù nhân cộng sản ở Nhà tù Hỏa Lò-Sơn La chuyển đi giam tại Nhà tù Côn Đảo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, các tù nhân chính trị được giải phóng; Phan Trọng Tuệ cùng nhiều đồng chí khác được Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ cho tàu ra đón về Mỹ Thanh, Sóc Trăng đêm 22-9-1945.

Khi ra tù, đồng chí cũng không có thời gian về thăm quê hương, bởi công cuộc kháng chiến đang sục sôi, cuốn hút. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng, gây chiến ở Sài Gòn. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Bộ cử các tù chính trị ở Côn Đảo về các tỉnh miền Nam và miền Trung tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến. Phan Trọng Tuệ được phân công hoạt động ở miền Tây Nam Bộ trên cương vị Thanh tra kháng chiến tại tỉnh Hậu Giang, làm Ủy viên liên Tỉnh ủy gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ; tháng 8-1947, được cử làm Chính ủy Khu 9. Trải qua nhiều chức vụ, tháng 8-1954, đồng chí làm Phó trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ, rồi Phó trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Trung ương. Tháng 11-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 243/SL, thăng quân hàm Thiếu tướng cho Đại tá Phan Trọng Tuệ. Tháng 3-1957, ông được cử làm Phó tổng Thanh tra Quân đội; đến tháng 11-1958, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Công an, phụ trách Lực lượng Cảnh vệ; tiếp đó được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an nhân dân vũ trang cho đến năm 1961.

Từ năm 1961 đến năm 1974, đồng chí Phan Trọng Tuệ được Đảng và Nhà nước bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (lần thứ nhất); tiếp đó làm Phó thủ tướng và từ năm 1976 đến 1980, lại trở về làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Như vậy, đồng chí làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải tổng cộng 17 năm.

Năm 1965, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, đồng chí Phan Trọng Tuệ được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 - tuyến chi viện chiến lược đường Trường Sơn, thực hiện mở đường Trường Sơn cho xe cơ giới vào chiến trường miền Nam.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ác liệt. Ngành giao thông vận tải phải đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của quân đội viễn chinh Mỹ. Nhiều cung đường bị bom Mỹ san phẳng, làm gián đoạn việc cung cấp vũ khí, quân trang quân dụng, thuốc men, lương thực cho chiến trường miền Nam. Trước tình hình đó, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã chỉ đạo toàn ngành phối hợp chặt chẽ với bộ đội công binh để làm lại những đoạn đường bị bom Mỹ đánh phá, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn, cung cấp kịp thời đạn dược, hàng hóa cho các chiến trường miền Nam và chiến trường Đông Dương. Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ nhiều lần gặp gỡ, động viên, quan tâm đến đời sống của anh chị em cán bộ, nhân viên thanh niên xung phong trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trên các tuyến đường.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, đồng chí Phan Trọng Tuệ đã chỉ đạo sâu sát việc khôi phục các tuyến đường giao thông Bắc-Nam; nhiều đường sá, cầu cống được làm mới và sửa chữa. Đồng chí cũng chỉ đạo sâu sát các cán bộ khoa học, kỹ thuật của ngành giao thông vận tải thiết kế, đóng mới nhiều loại tàu cỡ nhỏ cho quân đội. Từ năm 1970, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã chỉ đạo cán bộ của bộ thực hiện đề tài về Chiến lược xây dựng Việt Nam thành quốc gia hàng hải với nền kinh tế biển phát triển

Đồng chí Phan Trọng Tuệ là một trong những cán bộ có nhiều cống hiến lớn lao cho ngành giao thông vận tải, xây dựng ngành thành một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, đề ra những mục tiêu chiến lược và để lại nhiều tình cảm tốt đẹp đối với các thế hệ trong ngành. Tác phong làm việc của đồng chí rất chân tình, cởi mở, phương pháp làm việc là gợi mở, không áp đặt.

Từ tháng 3-1974 đến tháng 7-1976, đồng chí Phan Trọng Tuệ là Phó thủ tướng Chính phủ, kiêm Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam Việt Nam.

Khi miền Nam sắp được giải phóng, đồng chí đã báo cáo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam Việt Nam, về kế hoạch chi tiết chi viện cho miền Nam Việt Nam, phục vụ tích cực cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiếp đó, đồng chí quan tâm nhiều đến việc phát triển kinh tế, trong đó có phát triển giao thông vận tải; giải quyết tích cực các vấn đề thiết thực, cụ thể về đời sống nhân dân, đề cao pháp chế trong quản lý kinh tế.

Trong công tác của Chính phủ, Phó thủ tướng Phan Trọng Tuệ chú trọng phối hợp giữa các ngành, các cấp, bảo đảm cho guồng máy của cơ quan hành pháp vận hành thông suốt, nhất là việc phối hợp giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; công đoàn với cơ quan nhà nước trong việc phát động phong trào thi đua yêu nước thời bình, bảo đảm quyền lợi của người lao động. Trong nhiều phiên họp của Hội đồng Chính phủ, đồng chí luôn nhấn mạnh sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thường vụ Hội đồng Chính phủ để bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kịp thời của Trung ương Đảng và Chính phủ đối với các ngành và các địa phương; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước để hoàn thành các nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cụ thể của mỗi ngành, mỗi địa phương.

Đồng chí Phan Trọng Tuệ là một vị tướng, vị Bộ trưởng, Phó thủ tướng Chính phủ rất nhiệt tình, trách nhiệm, tài ba và còn là một người sống rất đức độ, cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng vì công việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Năng lực của đồng chí thể hiện bằng việc làm; đức độ thể hiện trong cách đối nhân xử thế. Cuộc sống của đồng chí hòa đồng với cuộc sống của nhân dân, tôn trọng ý kiến của nhân dân, luôn quan tâm đến cán bộ, nhân viên cấp dưới. Đồng chí cũng rất quan tâm xây dựng gia đình gương mẫu; luôn làm việc vì sự nghiệp chung, không bao giờ vì địa vị cá nhân. Đó là phong cách, nhân cách của đồng chí; được nhiều bạn bè, đồng chí và nhân dân tin yêu, cảm phục. Phó thủ tướng Phan Trọng Tuệ thực sự là một nhà hoạt động cách mạng bền bỉ và kiên trung. Đồng chí qua đời tại TP Hồ Chí Minh, ngày 18-12-1991, thọ 74 tuổi.

PGS, TS ĐÀM ĐỨC VƯỢNG