Để hiện thực hóa quyết tâm đó của Đảng, giải pháp có ý nghĩa quyết định là xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng vũ trang.
Trong thực hiện các bước đi đột phá xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao của toàn xã hội như Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 đã xác định, chúng ta cần hiểu sâu sắc những đặc điểm chung, riêng để vượt qua thách thức, tranh thủ nắm bắt thời cơ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quân đội-lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Một trong những đặc điểm đó là, trong 10-15 năm nữa, nước ta đang ở thời kỳ “dân số vàng”. Đây là cơ hội hết sức thuận lợi để xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Theo Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, đối tượng gọi nhập ngũ được mở rộng hơn trước. Nếu có các giải pháp đồng bộ để vừa thu hút, vừa bồi dưỡng, đào tạo, Quân đội ta có thể tạo được bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng nguồn nhân lực trong những năm tới.
Trước hết, cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nhiệm vụ này đòi hỏi sức mạnh của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là của lực lượng vũ trang nhân dân với vai trò nòng cốt. Chúng ta giữ nước bằng sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân gắn với sức mạnh nền an ninh nhân dân. Mọi công dân, nhất là giới trẻ đều phải được giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh, tạo nền tảng vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân và là nguồn lực dồi dào để xây dựng lực lượng nòng cốt. Vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại cùng bí quyết công nghệ sản xuất, bảo quản, bảo dưỡng chúng, cơ sở vật chất doanh trại bảo đảm đời sống cho bộ đội có thể có được bằng tiền. Con người với tư cách là hàng hóa sức lao động cũng có thể dùng tiền để thuê, mua. Trong thời đại toàn cầu hóa về kinh tế, rất nhiều doanh nghiệp có thể mua được những bộ óc rất giỏi từ các quốc gia khác nhau. Nhưng con người làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc thì không thể thuê, không thể mua, mà chỉ có thể tạo ra bằng sức mạnh nội sinh của dân tộc. Hơn thế nữa, một số lực lượng được ưu tiên tiến thẳng lên hiện đại đòi hỏi rất cao về tính đồng bộ của cả hệ thống. Chất lượng vũ khí trang bị, công tác huấn luyện, quản lý, chỉ huy, khai thác, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng… phải nằm trong một chỉnh thể cùng được ưu tiên đồng bộ. Không thể áp dụng cơ chế quản lý và tư duy bảo đảm kiểu cũ đối với hệ thống vũ khí trang bị quân sự mới. Do đó, để bảo vệ Tổ quốc, phải quan tâm đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Hai là, trên cơ sở quy hoạch tổ chức lực lượng quân đội theo hướng xây dựng lực lượng thường trực tinh gọn, mạnh, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ rộng rãi, cần cụ thể hóa các bước tạo nguồn trong cả chiến lược 10 năm, kế hoạch 5 năm và từng năm đối với các đối tượng: Cán bộ chỉ huy, quản lý; nhân viên chuyên môn kỹ thuật; hạ sĩ quan, chiến sĩ; bảo đảm sự cân đối giữa các lực lượng, các hướng chiến lược.
Trong tạo nguồn, cần hết sức coi trọng khâu tuyển quân, tuyển sinh. Những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội, đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội được cải thiện đáng kể, chính sách hậu phương quân đội ngày càng được chăm lo chu đáo. Nhờ đó, bộ đội yên tâm huấn luyện, rèn luyện, công tác với động cơ đúng đắn, sẵn sàng phục vụ ở những nơi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Môi trường quân đội ngày càng có sức thu hút lớn đối với thanh niên. Điều này được thể hiện rõ trong số liệu đăng ký tuyển sinh quân sự hằng năm. Số lượng “đầu vào” dồi dào là một yếu tố thuận lợi để tuyển chọn những quân nhân có chất lượng tốt. Hằng năm, số công dân nhập ngũ có trình độ cao đẳng, đại học ngày càng đông, có nhiều chuyên ngành phù hợp với các quân, binh chủng, ngành trong quân đội và rất nhiều quân nhân trong số này có nhu cầu phục vụ quân đội lâu dài. Mặt khác, môi trường quân đội cũng là nơi nghiêm khắc sàng lọc, đào thải những quân nhân không đủ tiêu chuẩn để phục vụ lâu dài. Qua quá trình đó, chúng ta sớm phát hiện để rèn luyện, bồi dưỡng các nhân tài quân sự cho tương lai; trong đó cần có những bước đi mạnh dạn, khẩn trương để tạo nguồn cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược cho quân đội.
Ba là, tiếp tục thực hiện các giải pháp quyết liệt, khẩn trương để nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo. Những năm tới, cùng với việc tổ chức quy hoạch lại hệ thống nhà trường quân đội theo hướng tinh, gọn, phù hợp, cần tích cực rà soát, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo các đối tượng, gắn giáo dục-đào tạo với nghiên cứu khoa học. Thông qua đó, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ nhà giáo, các nhà khoa học giỏi, nhất là đội ngũ chuyên gia quân sự đầu ngành trên các lĩnh vực khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, khoa học công nghệ quân sự, khoa học y-dược quân sự, hậu cần quân sự…
Trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội cần hết sức coi trọng giáo dục phẩm chất cách mạng, lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; giáo dục truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, của quân đội; thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc như đã xác định cụ thể trong văn kiện Đại hội XII của Đảng.
Quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, hoạt động đối ngoại nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước; với đặc thù quốc phòng, quân sự, đòi hỏi sự cẩn trọng cần thiết trong hoạt động này. Tuy nhiên, chúng ta cần tích cực tranh thủ thời cơ, khai thác các mặt “đồng”, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, các nước lớn, lựa chọn cán bộ, đặc biệt là sĩ quan trẻ, đã khẳng định được bản lĩnh chính trị để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng một số chuyên ngành phù hợp. Số học viên này phải được chuẩn bị thật tốt về khả năng tiếp thu, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ để có thể “học một - biết hai, ba”, có thể biến cái của người thành của mình, vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cùng với đó, cần tích cực, chủ động đưa một lực lượng phù hợp tham gia thực hiện các cam kết quốc tế, như hoạt động gìn giữ hòa bình, diễn tập chung và các hoạt động khác để học tập, trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng trình độ, năng lực toàn diện cho cán bộ.
Bốn là, cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho quân đội. Cùng với việc tự đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật quân sự, cần mở rộng hơn nữa sự kết nối, huy động các bộ phận phù hợp của hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở nghiên cứu khoa học, các cơ sở công nghiệp lưỡng dụng cùng tiềm năng “chất xám” của đội ngũ các nhà khoa học dân sự vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho quân đội, nhằm tiết kiệm, phát huy hiệu quả đầu tư, đồng thời xây dựng tiềm lực dự bị động viên chất lượng cao, sẵn sàng mở rộng lực lượng khi có tình huống cấp bách về quốc phòng, quân sự. Đối với nguồn cán bộ thi tuyển từ hạ sĩ quan, chiến sĩ trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học có chất lượng tốt để phục vụ quân đội lâu dài, cần nghiên cứu để có chính sách đãi ngộ cụ thể, phù hợp như: Xét quân hàm, cách tính điểm theo thâm niên để xét các chính sách có tính đến chi phí đào tạo trước khi nhập ngũ mà gia đình họ đã phải trả…
Trên cơ sở tích cực giải quyết chính sách thỏa đáng để giảm bớt biên chế ở các bộ phận phục vụ, tiếp tục xã hội hóa một số mặt bảo đảm để tập trung ngân sách đầu tư cho hiện đại hóa quân đội. Trong việc nghiên cứu các chính sách đãi ngộ với lực lượng vũ trang, như: Chế độ nhà ở, cải tiến hệ thống bảng lương, phụ cấp để phù hợp với hoạt động đặc thù quân sự của các đối tượng, cần nắm vững quan điểm thực tiễn và quan điểm phát triển, lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc - một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, phải được quan tâm, chăm lo ngay từ thời bình để thực hiện công cuộc giữ nước từ khi nước chưa nguy.
Trung tướng, PGS, TS PHẠM QUỐC TRUNG, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị