Thiếu tướng VŨ HẢI SẢN, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 3:

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn vững mạnh

Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về quốc phòng-an ninh (QP-AN), nhất là những nội dung mới được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD) vững mạnh, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của LLVT Quân khu theo hướng: Xây dựng bộ đội chủ lực “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”, bảo đảm tỷ lệ theo quy định; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, sắp xếp đúng chuyên nghiệp quân sự. Đồng thời tạo bước đột phá trong chấn chỉnh tổ chức biên chế theo quy định của Bộ Quốc phòng, bảo đảm tính hợp lý, đồng bộ, cân đối giữa các lực lượng. Trong đó, ưu tiên bảo đảm đủ quân số và chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và VKTB cho các đơn vị làm nhiệm vụ SSCĐ.

 
Quân khu coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu, giáo dục chính trị cho các đối tượng; chú trọng huấn luyện đêm, huấn luyện dã ngoại, diễn tập vòng tổng hợp, diễn tập chỉ huy-cơ quan các cấp và diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng; gắn huấn luyện với rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy. Các cơ quan, đơn vị LLVT quân khu chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội gắn với củng cố, tăng cường QP-AN, nhất là triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Xây dựng các điểm dân cư tập trung, bố trí việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới; bảo vệ và phát triển rừng vành đai đến năm 2020”. Đồng thời, hoàn thành tốt các mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu nhiệm vụ công tác quân sự, quốc phòng địa phương. Phấn đấu trong nhiệm kỳ có 9/9 tỉnh, thành phố; 94/94 quận, huyện, thị xã tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ (KVPT); 100% xã, phường, thị trấn diễn tập chiến đấu trị an. Đến năm 2020, cả 9 tỉnh, thành phố đều xây dựng xong sở chỉ huy cơ bản thời chiến và xây dựng được 50%-70% các hạng mục công trình căn cứ hậu cần-kỹ thuật trong KVPT.

Tăng cường thế trận và sức mạnh của KVPT; chủ động nắm chắc tình hình, xử lý thắng lợi mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, vùng trời, vùng biển; tham gia ứng phó kịp thời, có hiệu quả trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn; phối hợp giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, góp phần cùng nhân dân các dân tộc trên địa bàn quân khu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.

HẢI CA (lược ghi)

Đồng chí ĐỖ TIẾN SỸ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hưng Yên:

Tạo nền tảng đưa Hưng Yên sớm trở thành tỉnh công nghiệp

Quán triệt, triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, nhiệm kỳ 2015-2020 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên xác định: “Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; phát huy mọi nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của toàn dân; đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển nhanh kinh tế-xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tạo nền tảng để Hưng Yên sớm trở thành tỉnh công nghiệp”.

 
Theo đó, Hưng Yên tập trung thực hiện ba khâu đột phá: Tập trung thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hiện đại; huy động các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và đô thị, nhất là xây dựng giao thông; trên cơ sở quy hoạch cán bộ, thực hiện công tác đào tạo, đánh giá, sử dụng cán bộ thông qua việc đẩy mạnh luân chuyển cán bộ giữa các cấp và luân chuyển ở các ngành trong cùng cấp.

Để hoàn thành các khâu đột phá, tỉnh đã xây dựng 11 chương trình, đề án; xác định rõ một số chỉ tiêu cơ bản: Tăng trưởng bình quân năm: GRDP tăng 7,5-8%; giá trị sản xuất nông nghiệp-thủy sản tăng 2,5-3%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9-10%, thương mại-dịch vụ tăng 8,5-9,5%; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 16%. Phấn đấu đến năm 2020: Công nghiệp, xây dựng 55% - Dịch vụ 37% - Nông nghiệp 8%; giá trị thu được bình quân 210 triệu đồng/ha; 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt hơn 13.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 9.000 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷ USD; GDP bình quân 75 triệu đồng/người; tỷ lệ đô thị hóa đạt 40,5%; Thành phố Hưng Yên đạt đô thị loại II và trở thành một trong các đô thị lớn của vùng Đồng bằng Sông Hồng... 

Để đạt mục tiêu đó, tỉnh chú trọng thực hiện toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, như: Phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội; quốc phòng, an ninh, tư pháp, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững ổn định môi trường an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển kinh tế và tập trung thu hút đầu tư; xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh... Đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế, tỉnh tập trung thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp tạo nền tảng cho CNH-HĐH. Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp, cải thiện môi trường đầu tư, bổ sung cơ chế, chính sách tạo sự hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đẩy mạnh xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và đô thị, nhất là xây dựng giao thông. Huy động cao nhất các nguồn lực xã hội và ngân sách để tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kinh tế-xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển. Phát triển nông nghiệp hàng hóa hiệu quả cao gắn với xây dựng nông thôn mới. Đa dạng hóa các loại hình và nâng cao chất lượng dịch vụ; động viên các nguồn lực, khai thác các nguồn thu, tăng tỷ lệ thu nội địa,bảo đảm chi hiệu quả; quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu... 

THU HẰNG (lược trích)

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN THẾ, Phó giám đốc Học viện Chính trị:

Đổi mới nội dung, hình thức giáo dục-đào tạo bảo đảm tiến độ và chất lượng

Quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào công tác giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), nghiên cứu khoa học, Thường vụ, Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện Chính trị xác định, đây là nội dung trọng tâm trong năm 2016 và trong suốt nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ Học viện lần thứ XV (2015-2020).

Để thực hiện chủ trương trên, trước hết, Thường vụ, Đảng ủy Học viện Chính trị tập trung lãnh đạo chỉ đạo tốt việc tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII đến cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị. Thời gian tới, Thường vụ, Đảng ủy học viện sẽ bám sát sự chỉ đạo, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương xây dựng, ban hành kế hoạch tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII theo hướng đổi mới về nội dung, hình thức GD-ĐT, bảo đảm tiến độ và chất lượng. Trong đó, đặc biệt chú trọng những quan điểm, định hướng lớn, những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển mới được Đảng đề cập trong Văn kiện và Nghị quyết về: Đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT; phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường tiềm lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ... làm cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác GD-ĐT và nghiên cứu khoa học ở học viện.

 
Thường vụ, Đảng ủy Học viện Chính trị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới toàn diện, đồng bộ công tác GD-ĐT; tập trung đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, tiếp tục đột phá đổi mới nội dung gắn với đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học, phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học theo mục tiêu đào tạo; bảo đảm tốt giáo trình, tài liệu, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho GD-ĐT. Lãnh đạo, chỉ đạo phát triển mạnh mẽ, toàn diện, vững chắc hoạt động khoa học, công nghệ; tập trung đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận nhằm tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng tiềm lực khoa học, mở rộng quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học; tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận phòng, chống “diễn biến hòa bình”, tư tưởng, quan điểm sai trái của các thế lực phản động, thù địch, góp phần bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng. Gắn kết chặt chẽ, đồng bộ công tác GD-ĐT với công tác nghiên cứu khoa học và các mặt công tác khác của học viện nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ GD-ĐT, nghiên cứu khoa học. Đồng thời, chăm lo xây dựng, kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ khoa học đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất lượng ngày càng cao; chủ động triển khai đề án xây dựng, kiện toàn, phát triển đội ngũ cán bộ giai đoạn 2016-2020, trong đó đặc biệt coi trọng đội ngũ giảng viên và cán bộ khoa học...

NGỌC SINH (lược ghi)

TS HOÀNG XUÂN HÒA, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương:

Để kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế có quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước (KTNN) giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật...

 
Vấn đề KTNN giữ vai trò chủ đạo đã được thống nhất, khẳng định trong Cương lĩnh và Hiến pháp. KTNN bao gồm: Nguồn lực nhà nước và doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Các nguồn lực nhà nước (tài nguyên, đất đai, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia,…), cùng với các công cụ, cơ chế, chính sách được Nhà nước sử dụng để định hướng, điều tiết nền kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. DNNN cũng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.

Như vậy, để KTNN thực sự đóng vai trò chủ đạo, cần phải nhận diện đúng thành phần KTNN, tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN; đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN. Theo đó, DNNN chỉ tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Đổi mới cơ chế thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước và cơ chế giám sát hoạt động các DNNN. Cần tách bạch chức năng chủ sở hữu DNNN với chức năng quản lý Nhà nước. Cải cách quản trị DNNN, hướng vào hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tổ chức mô hình hoạt động của tập đoàn kinh tế, bảo đảm kinh doanh lành mạnh theo cơ chế thị trường. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn KTNN. Nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Thực hiện đồng bộ có hiệu quả các nội dung nêu trên, sức mạnh của KTNN sẽ được phát huy, bảo đảm giữ vững vai trò chủ đạo trong định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.    

NGUYỆT MINH (lược ghi)

PGS, TS NGUYỄN VIẾT THÔNG, Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương:

Ba vấn đề căn bản để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

Để đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống cần xác định rõ ba vấn đề, đó là: Làm gì? Làm như thế nào? Ai làm?

Đáp án của câu hỏi “Làm gì?” chính là làm tốt công tác tuyên truyền nghị quyết. Tuyên truyền, quán triệt nghị quyết để cấp ủy các cấp, cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu đúng, hiểu sâu, nắm vững nghị quyết. Cùng với tuyên truyền việc triển khai thực hiện nghị quyết, phải chú trọng tuyên truyền những cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, những điển hình tiên tiến. Cần đa dạng hóa hình thức tuyên truyền. Thể chế hóa nghị quyết, xây dựng chương trình hành động (hay các đề án thực hiện nghị quyết). Cấp ủy các cấp căn cứ vào Nghị quyết Đại hội XII, rà soát, bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp; xây dựng chương trình hay đề án thực hiện nghị quyết phù hợp, hiệu quả. Trong triển khai thực hiện, cấp ủy phải phân công rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân, thời hạn hoàn thành các nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả. Quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, phát hiện những vấn đề nảy sinh, điều chỉnh, bổ sung kịp thời những chủ trương, chính sách, giải pháp phù hợp.

 
Trả lời câu hỏi “Làm như thế nào?”, chúng ta phải thấy rằng: Một vấn đề có ý nghĩa quyết định là cần đổi mới mạnh mẽ cách làm theo hướng: Đảng làm trước; cấp trên làm trước; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả 6 nhiệm vụ trung tâm được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; làm kiên quyết, kiên trì, tránh "đầu voi đuôi chuột"; đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động, sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo, quản lý thống nhất của Trung ương.

Về vấn đề "Ai làm?", việc đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của tất cả các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị, nhưng quyết định nhất là người đứng đầu. Theo đó, cần phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của người đứng đầu. Người đứng đầu càng cao càng phải gương mẫu thực hiện... Làm được ba vấn đề nêu trên Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chắc chắn nhanh chóng đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả cao.

PHẠM THỊ HIỀN (lược ghi)

Đồng chí NGUYỄN THẾ TRUNG, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương:

Cán bộ phải tin dân, trọng dân

Nhìn lại 30 năm đổi mới, Đảng ta rút ra 5 bài học quan trọng, trong đó có bài học “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đây là bài học sâu sắc, sự kế thừa ý thức “dân là gốc” của ông cha ta qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

 
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định, một trong những nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Đảng là: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”. Để phấn đấu thực hiện các mục tiêu công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới, trước hết phải làm thật tốt việc học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Đối với công tác dân vận, nội dung cốt lõi là quán triệt quan điểm “Dân là gốc”. Theo đó, tùy tình hình cụ thể của từng đảng bộ, từng đối tượng để cấp ủy quyết định hình thức, biện pháp học tập, quán triệt nghị quyết phù hợp, hiệu quả. Sau khi quán triệt, cần tổ chức thảo luận, trao đổi, hỏi đáp để cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức đầy đủ, đúng đắn nội dung nghị quyết; đồng thời xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của địa phương, tổ chức mình. Chương trình hành động phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp khả thi nhất để đưa nghị quyết vào cuộc sống, trong đó quan tâm các nguồn lực (bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực) để có cơ sở, điều kiện thực hiện. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Ở đó đặt ra cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các tổ chức chính trị-xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam. Các cấp ủy, chính quyền thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

Căn cứ vào tình hình và mức độ khác nhau ở từng địa phương; tùy vào những vấn đề mà đông đảo nhân dân quan tâm, những bức xúc về đời sống, như: Việc làm, đền bù, giải phóng mặt bằng đất đai, tham nhũng, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, ma túy... để cấp ủy, cơ quan nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết có hiệu quả.

VĂN SƠN (lược ghi)

Thiếu tướng NGÔ KIM ĐỒNG, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc:

Hai nhân tố chính xây dựng binh chủng tiến lên hiện đại

Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL) vinh dự, tự hào là một trong 6 lực lượng được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định tiến thẳng lên hiện đại. Vì vậy, chúng tôi xác định: Đây là trách nhiệm nặng nề của cán bộ, chiến sĩ TTLL trước Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước. Để thực hiện thắng lợi chủ trương xây dựng Binh chủng TTLL hiện đại, ngay sau Đại hội XII của Đảng, Đảng ủy Binh chủng TTLL và các cấp ủy trong binh chủng đã ban hành nghị quyết lãnh đạo chuyên đề; chỉ huy các cấp có kế hoạch cụ thể về xây dựng đơn vị tiến lên hiện đại. Trong đó chúng tôi xác định hai nhân tố chính là con người và vũ khí trang bị.

 
Về con người, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh chủng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; động cơ trong sáng, bản lĩnh vững vàng, trách nhiệm cao; đoàn kết, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; có trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Để đạt được mục tiêu này chúng tôi tiến hành đồng bộ các giải pháp, trong đó tập trung vào một số giải pháp sau: Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong binh chủng. Đổi mới công tác giáo dục-đào tạo (GD-ĐT) tại các nhà trường, công tác huấn luyện chiến đấu tại các đơn vị, bảo đảm cho bộ đội “Giỏi thông tin truyền thống, tinh nhuệ về thông tin cơ động, làm chủ khí tài công nghệ cao”; chủ động hội nhập, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GD-ĐT nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao...

Về trang bị, khí tài, binh chủng tập trung điều chỉnh “Chiến lược phát triển hệ thống TTLL quân sự giai đoạn 2015-2020” theo hướng hiện đại, “lấy mạng làm trung tâm”; xây dựng hạ tầng TTLL quân sự có khả năng kết nối, tích hợp linh hoạt với các mạng viễn thông khác; làm cơ sở động viên, phát huy sức mạnh tổng hợp của thông tin nhân dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Binh chủng đầu tư nâng cấp các đường trục cáp quang quân sự với công nghệ hiện đại, điều hành tập trung, kết nối linh hoạt, có chất lượng và tốc độ cao, bảo đảm vững chắc đường trục thông tin quân sự trong mọi tình huống; tổ chức quy hoạch, khai thác hệ thống vô tuyến điện ở cấp chiến lược theo phương châm “trang bị phân tán, điều hành tập trung”. Các cơ quan, đơn vị của binh chủng chủ động phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông trong và ngoài nước nghiên cứu, sản xuất các trang bị, khí tài thông tin công nghệ cao; từng bước vươn lên tự chủ về bảo đảm trang bị và kỹ thuật TTLL, giảm dần sự phụ thuộc.

QUANG THẮNG (lược ghi)

TS CAO ĐỨC THÁI, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người:

Nhận diện đúng âm mưu của các thế lực thù địch để chủ động phòng ngừa

Đại hội XII của Đảng diễn ra trong bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực và trong nước có nhiều biến đổi, nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong quản lý xã hội, những biểu hiện đơn lẻ trong đời sống, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị có nhiều hoạt động xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là dịp diễn ra Đại hội XII của Đảng.

 
Về tư tưởng chính trị, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng thể hiện trong Văn kiện và Nghị quyết Đại hội XII, với giọng điệu cho rằng: Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng vẫn kiên trì đường lối, hệ tư tưởng giáo điều, bảo thủ. Các thế lực thù địch còn lợi dụng những vấn đề về "dân chủ", "nhân quyền" để kích động gây mất ổn định xã hội; đồng thời cho rằng: Thể chế “độc quyền” không thể chống được tham nhũng... Về chính sách đối ngoại của Đảng ta, các thế lực thù địch rêu rao rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam nghiêng về nước nọ, ngả về nước kia... Về vấn đề nhân sự Đại hội XII, luận điệu của các thế lực thù địch là: Đại hội chỉ nhằm vào việc “kẻ ở”, “người về”… không quan tâm đến nguyện vọng của nhân dân...

Tuy nhiên, những luận điệu xuyên tạc, chống phá Đại hội XII của các thế lực thù địch không thể làm giảm lòng tin của dân đối với Đảng; không thể làm suy yếu Đảng mà còn làm cho uy tín của Đảng ta ngày càng tăng. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nước bày tỏ phấn khởi trước thành công của đại hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và mong muốn sớm đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đi vào cuộc sống... Có được niềm tin vững chắc ấy chính là thành tựu đạt được sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đất nước phát triển, vị thế Việt Nam ngày càng khẳng định trên trường quốc tế, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, nâng cao. Thành tựu đạt được ấy là minh chứng sinh động cho đường lối lãnh đạo của Đảng là đúng đắn, khoa học; là tinh thần đoàn kết, nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Do vậy, trong mỗi chúng ta, mà trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch để chủ động đấu tranh; để kiên trì thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Nắm vững chủ trương, quan điểm được Đảng xác định trong Văn kiện và Nghị quyết Đại hội XII, tổ chức thực hiện có hiệu quả chính là giải pháp vững chắc nhất để đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.

HƯƠNG XUÂN (lược ghi)

Đồng chí VŨ NGUYÊN ĐÁN, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Nam:

Cụ thể hoá nghị quyết bằng các chương trình, đề án

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Nam giao các ban, ngành của tỉnh tham mưu xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX sát tình hình thực tiễn. Mục tiêu được Tỉnh ủy đặt ra là: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả của chính quyền; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể, phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

 
Chương trình hành động của Tỉnh ủy được cụ thể hoá bằng các chương trình, đề án, các nghị quyết chuyên đề mà cấp ủy phải lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt cả nhiệm kỳ như: Nghị quyết về đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp, tạo đột phá trong phát triển nông nghiệp, nông thôn; nghị quyết về thu hút đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến sản phẩm nông nghiệp; nghị quyết về phát triển thương mại, dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; nghị quyết về xây dựng TP Phủ Lý; nghị quyết về cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức... Các chương trình, đề án, nghị quyết chuyên đề tập trung thực hiện tốt các khâu đột phá: Đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp nâng cao giá trị gia tăng, chuyển dịch mạnh lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ làm nền tảng để xây dựng tỉnh Hà Nam phát triển nhanh và bền vững. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các cơ chế chính sách và thực tiễn của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực phát triển bền vững. Nâng cao chất lượng, trách nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức, trọng tâm là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành; đặc biệt là vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

Thường trực Tỉnh uỷ yêu cầu các cấp uỷ phải quán triệt sâu sắc các chủ trương, giải pháp được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và tình hình thực tế của địa phương. Trên cơ sở đó, các cấp ủy xác định chương trình hành động thực hiện nghị quyết của địa phương, ngành có tính khả thi cao. Kiên quyết khắc phục tình trạng sao chép, mô phỏng chương trình hành động của cấp uỷ cấp trên, không bám sát tình hình nhiệm vụ của địa phương, thiếu thực tiễn, sáng tạo...                                                                               

QUANG HÒA (lược ghi)   

Thượng sĩ NGUYỄN VĂN SƠN, Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 312, Quân đoàn 1):

Quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là thực hiện nghị quyết hiệu quả nhất

Ngay sau thành công của Đại hội lần thứ XII của Đảng, chỉ huy đơn vị chúng tôi đã có nhiều hình thức tuyên truyền, quán triệt, phổ biến kết quả và những nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội XII đến cán bộ, chiến sĩ. Thông qua việc quán triệt, giáo dục giúp tôi cũng như cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

 
Tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, thời gian qua, tôi luôn chủ động học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ quân sự, kỹ thuật, chiến thuật, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; xây dựng tốt mối đoàn kết trong tiểu đội, đại đội. Cùng với đó, tôi cũng luôn chủ động học hỏi nắm chắc chế độ tiêu chuẩn, tích cực tăng gia sản xuất góp phần cải thiện đời sống; củng cố doanh trại “Sáng, xanh, sạch, đẹp”, tạo môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh. Trong công tác quản lý vũ khí trang bị kỹ thuật (VKTBKT) tôi luôn cố gắng học hỏi, sử dụng thành thạo các loại VKTBKT có trong biên chế, tin tưởng vào VKTB và cách đánh của Quân đội ta; nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, là cơ sở để bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, tôi luôn gương mẫu đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ của tiểu đội, trung đội; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của anh em trong tiểu đội, giúp đỡ các đồng chí còn khó khăn.

Quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng như nghị quyết của các cấp, bản thân tôi nhận thức rằng: Luôn tích cực học tập, chủ động khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, củng cố niềm tin; thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao trên từng cương vị, chức trách của mình, gắn bó, đoàn kết với đồng chí, đồng đội; hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên cương vị của mình, yêu thương, quý trọng đồng chí, đồng đội chính là thực hiện nghị quyết của Đảng một cách hiệu quả nhất.

MINH ĐĂNG (lược ghi)