Kế thừa kinh nghiệm và kết quả có được qua các kỳ đại hội, Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ...
Có thể nói, đây là tư duy lý luận mới của Đảng, thể hiện tính tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Trên cơ sở phân tích và dự báo xu thế phát triển của thế giới, khu vực, đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế của đất nước, cùng việc triển khai các cam kết, ký kết mà Việt Nam tham gia, để hội nhập kinh tế quốc tế trở thành phương tiện hữu hiệu phục vụ phát triển bền vững và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và triển khai chiến lược các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại song phương, đa phương mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình phù hợp. Bởi vậy, trước hết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình quốc tế, trong nước, những thành tựu và hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế để từng cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị; đồng thời triển khai một cách tích cực, chủ động. Từng cấp ủy, tổ chức đảng có liên quan đến công tác này cần tiếp tục quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch toàn diện và cụ thể về việc thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong bối cảnh thế giới cũng như trong nước có nhiều thay đổi.
Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi người dân, trước hết là cán bộ, đảng viên, lãnh đạo các doanh nghiệp nhận thức sâu sắc về hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế nói riêng là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Thực tế cho thấy, hiện nay trong một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ các cấp, các ngành, các doanh nghiệp còn nhận thức chưa đúng về thời cơ, thách thức của hội nhập. Nhiều người, nhiều doanh nghiệp, địa phương xem hội nhập là nhiệm vụ của Nhà nước, của các bộ, ngành mà không phải là việc của mình, địa phương, đơn vị mình. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế, yếu kém trong hội nhập quốc tế thời gian qua. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập về kinh tế nói riêng, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục trong từng cơ quan, đơn vị và toàn xã hội. Công tác tuyên truyền phải làm cho mọi người dân hiểu rõ, nắm chắc cả thuận lợi, thời cơ và thách thức trong quá trình hội nhập. Từ đó để mỗi người, mỗi tổ chức, doanh nghiệp có kế sách, giải pháp tích cực và chủ động tham gia.
Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện thể chế trong nước nói chung, thể chế kinh tế nói riêng sao cho vừa bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế cũng là vấn đề mà Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành cần đặc biệt qua tâm trong thời gian tới. Điều chỉnh thể chế theo hướng chú trọng thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mức độ cam kết và tự do hóa thương mại ngày càng cao; đồng thời có các điều chỉnh thương mại trên cơ sở cam kết với các tổ chức quốc tế và khu vực để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện các cam kết thương mại. Cùng với đó, phải hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đa dạng hóa hình thức sở hữu, bảo vệ các quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền định đoạt tài sản cho các chủ thể; bảo đảm tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh trên cơ sở không phân biệt, đối xử; cải cách đơn giản hóa thủ tục hành chính; minh bạch, công khai pháp luật, cơ chế, chính sách để mọi người dân, doanh nghiệp đều biết. Tích cực, khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thực thi có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và sẽ ký kết. Hoàn thiện thể chế để tận dụng cơ hội và phòng ngừa, giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế, nhất là tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế. Phát huy vai trò là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng kinh tế ASEAN, WTO, TPP... Đẩy mạnh cải cách bộ máy, cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nghiên cứu, áp dụng các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế vào quản lý kinh tế. Xác lập cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp nhằm thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả. Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới.
Tận dụng tối đa các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ, hàng hóa của Việt Nam. Gắn kết giữa hội nhập kinh tế quốc tế với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế trong tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đất nước; bảo đảm tầm nhìn dài hạn các mục tiêu phát triển kinh tế, mục tiêu chính trị ngoại giao và mục tiêu chiến lược trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với đó, các bộ, ngành, địa phương cần nâng cao năng lực nghiên cứu, đánh giá và dự báo các vấn đề mới, các xu thế vận động của hội nhập để chủ động tham gia một cách có hiệu quả. Thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể.
PGS, TS NGUYỄN TRỌNG XUÂN