Sáng 19-8-1945, ông tham gia lực lượng giành chính quyền ở huyện, chiều về tham gia giành chính quyền ở làng và ở tổng. Năm 1948, khi 19 tuổi, ông được kết nạp Đảng. Năm 1950, ông nhập ngũ và trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tiếp tục công tác đến năm 1985 thì nghỉ hưu. Ông Trừu cho biết: “Tôi có lý lịch Đảng viên kê khai năm 1975 theo Thông tri 297 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, được xã xác nhận, chứng thực; có giấy xác nhận của 2 cán bộ lão thành cách mạng, nhưng đến nay vẫn chưa được công nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa (hoạt động cách mạng từ 1-1-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8-1945). Nhờ quý báo phản ánh lên cấp trên để tôi được hưởng chế độ”.

Gửi kèm đơn, có di bút của 2 cán bộ lão thành cách mạng (nay đã mất) là cụ Lê Đình Du và cụ Nguyễn Đình Xương. Cụ Lê Đình Du ở xã Hương Thọ, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh viết năm 1997: “Khoảng tháng 6,7,8-1945, chúng tôi đến các cơ sở cách mạng ở Sa Long, Trúc Lâm và xã Hà Linh… và gặp anh Nguyễn Đình Trừu là lớp thanh thiếu niên con em gia đình cách mạng nên được giác ngộ cách mạng sớm. Lúc đó khoảng thời gian tháng 7,8-1945 đến ngày khởi nghĩa giành chính quyền (19-8-1945), các cuộc hội ý, hội nghị diễn ra nhiều hơn, đồng chí Trừu thường được giao làm các việc giao thông liên lạc, canh gác báo tin, bảo vệ các cuộc hội ý, hội nghị đề phòng bọn mật thám phá hoại”. Còn cụ Nguyễn Đình Xương ở xã Hà Linh, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh viết năm 1997: “Xác nhận đồng chí Nguyễn Đình Trừu … được Việt Minh giao làm các việc như giao thông liên lạc bảo vệ các cuộc hội họp bí mật từ tháng 12-1944 đến trước 19-8-1945 cho công việc chuẩn bị cướp chính quyền. Được giao nhiệm vụ thanh thiếu niên nhi đồng cứu quốc và đã giữ chức Bí thư Thanh thiếu niên cứu quốc từ thôn đến Tổng Phương Điền”.

Theo Nghị định 31/2013/NĐ-CP không quy định giấy xác nhận của người làm chứng là căn cứ xác nhận cán bộ tiền khởi nghĩa. Điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị định này quy định đối với người hoạt động cách mạng còn sống thì xác nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa căn cứ vào một trong các giấy tờ sau: “Lý lịch của cán bộ, Đảng viên khai từ năm 1969 trở về trước, do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý; lý lịch đảng viên khai năm 1975, 1976 theo Thông tri số 297/TT-TW ngày 20-4-1974 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa III) đối với người hoạt động cách mạng được kết nạp vào Đảng sau năm 1969 và người hoạt động liên tục ở các chiến trường B, C, K từ năm 1954 đến ngày 30- 4-1975”.

Rất tiếc là ông Trừu không cung cấp lý lịch đảng viên khai từ năm 1969 trở về trước, mà chỉ cung cấp lý lịch đảng viên khai năm 1975 theo Thông tri số 297/TT-TW ngày 20-4 -1974. Song, tại Điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị định này chỉ quy định áp dụng đối với người hoạt động cách mạng kết nạp Đảng sau năm 1969, còn ông Trừu được kết nạp Đảng từ năm 1948. Đã thế, ông không hoạt động liên tục ở ở các chiến trường B, C, K từ năm 1954 đến ngày 30- 4-1975. Vậy, tòa soạn biết lấy căn cứ nào để kiến nghị và đề nghị với cơ quan cấp trên xét công nhận ông là cán bộ tiền khởi nghĩa và được hưởng chế độ?

HÀ PHƯƠNG