Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 - nền tảng cho việc xây dựng văn hóa Việt Nam hiện đại

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, có những mốc son không chỉ làm thay đổi vận mệnh quốc gia mà còn định hình hệ giá trị tinh thần trường tồn. Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 năm 1945 là một trong những mốc son như thế. Thắng lợi vĩ đại ấy đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ bước lên vũ đài lịch sử với tư cách một quốc gia độc lập, tự do, đồng thời đặt nền móng cho việc kiến tạo một nền văn hóa mới - nền văn hóa của con người tự do, làm chủ đất nước và khát vọng vươn tới tương lai.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Những giá trị như độc lập, tự chủ, tự cường; đại đoàn kết toàn dân; khát vọng vươn lên vì một xã hội công bằng, nhân văn đã được nâng lên thành lý tưởng, trở thành “mạch nguồn” thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc. Nếu như trước Cách mạng, văn hóa dân tộc phần nhiều còn bị áp chế và cản trở bởi ách nô lệ, thì sau thắng lợi năm 1945, văn hóa đã thực sự trở thành ý thức tự giác của cả cộng đồng, là sức mạnh nội sinh thúc đẩy đất nước đi lên.

Điều đặc biệt là, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 không chỉ trao cho dân tộc ta độc lập, tự do, mà còn để lại một di sản tinh thần vô giá - nền tảng cho việc xây dựng văn hóa Việt Nam hiện đại. Độc lập dân tộc trở thành “gốc rễ” của bản sắc; tinh thần đoàn kết trở thành “chất keo” kết nối cộng đồng 54 dân tộc anh em; ý chí tự cường trở thành động lực cho sáng tạo và đổi mới. Đồng thời, chính văn hóa - với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội - lại tiếp tục bồi đắp, lan tỏa và làm giàu thêm cho tinh thần cách mạng, giúp dân tộc vững bước vượt qua mọi thử thách lịch sử.

 Thành tựu và thách thức trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

8 thập kỷ qua, đặc biệt là từ công cuộc Đổi mới, văn hóa Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, từng bước khẳng định vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Một trong những thành tựu quan trọng nhất chính là công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Việt Nam đã có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên, cùng 15 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh. Đây là sự khẳng định giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam trong kho tàng di sản nhân loại. Việc trùng tu di tích, phục dựng lễ hội, bảo tồn các loại hình nghệ thuật truyền thống đã góp phần nối dài mạch nguồn văn hóa dân tộc, đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.

Cùng với bảo tồn di sản, đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú và đa dạng. Các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã trở thành môi trường để cộng đồng tham gia sáng tạo, hưởng thụ và lan tỏa giá trị nhân văn. Các sự kiện văn hóa lớn như Festival Huế, Liên hoan phim quốc tế Hà Nội, Lễ hội Áo dài, Tuần lễ văn hóa - du lịch vùng cao… không chỉ nâng cao đời sống tinh thần mà còn góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Văn hóa, từ chỗ chỉ gắn liền với truyền thống, nay đã trở thành động lực phát triển, đóng góp ngày càng rõ nét vào kinh tế - xã hội.

Song hành với sự đa dạng đời sống tinh thần, công tác giáo dục đạo đức và lối sống văn hóa cũng được chú trọng. Các giá trị “Chân - Thiện - Mỹ”, truyền thống nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết được khẳng định và lan tỏa qua nhiều phong trào thiết thực. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nếp sống văn hóa mới, góp phần xây dựng nhân cách, bồi đắp niềm tin và trách nhiệm công dân.

 Ảnh minh họa: TTXVN

Không dừng lại trong phạm vi quốc gia, ngoại giao văn hóa đã đưa Việt Nam trở thành điểm sáng trong giao lưu quốc tế. Các tuần lễ văn hóa, lễ hội nghệ thuật ở nước ngoài, cùng sự tham gia tích cực của nghệ sĩ Việt Nam tại các festival quốc tế đã nâng cao sức mạnh mềm, khẳng định bản sắc Việt Nam trong bức tranh đa dạng văn hóa toàn cầu. Nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận Việt Nam là một trong những quốc gia có thành tựu nổi bật trong bảo tồn di sản và phát triển văn hóa bền vững.

Tuy nhiên, chính trong quá trình phát triển ấy, nhiều thách thức cũng xuất hiện, đòi hỏi sự nhìn nhận nghiêm túc và giải pháp kịp thời. Kinh tế thị trường và toàn cầu hóa tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa, nhưng đồng thời mang đến nguy cơ thương mại hóa và tầm thường hóa. Không ít sản phẩm văn hóa chạy theo lợi nhuận, thiếu chiều sâu tư tưởng, thậm chí bị lai căng, đánh mất bản sắc. Một bộ phận giới trẻ, trong quá trình hội nhập, có xu hướng sùng bái văn hóa ngoại lai, xa rời giá trị truyền thống.

Cùng với đó, những biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống ngày càng đáng lo ngại. Tình trạng bạo lực học đường, bạo lực gia đình, ứng xử thiếu văn minh trên mạng xã hội, hay lối sống thực dụng, chạy theo vật chất… đang làm phai nhạt những giá trị tốt đẹp vốn được hun đúc từ lịch sử dân tộc và tinh thần cách mạng.

Ngoài ra, công nghiệp văn hóa - lĩnh vực được kỳ vọng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn - vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Hiện đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa mới chiếm khoảng 3% GDP, trong khi mục tiêu đặt ra là 7% vào năm 2030. Điện ảnh, âm nhạc, thời trang có nhiều khởi sắc nhưng chưa tạo ra thương hiệu quốc tế mạnh...

 Tầm nhìn và giải pháp chiến lược phát huy tinh thần cách mạng trong xây dựng văn hóa Việt Nam hiện đại

Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh mục tiêu: Đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong tầm nhìn đó, văn hóa phải giữ vai trò củng cố bản sắc dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia và lan tỏa giá trị Việt Nam ra thế giới.

Một nền văn hóa Việt Nam vào năm 2045 phải hội tụ ba đặc trưng cơ bản: Hiện đại, hội nhập và đậm đà bản sắc dân tộc. Hiện đại là thích ứng với công nghệ, đổi mới sáng tạo; hội nhập là tham gia sâu rộng vào dòng chảy toàn cầu nhưng vẫn giữ bản lĩnh; và bản sắc chính là gốc rễ, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để không bị hòa tan trong thế giới đa văn hóa.

Văn hóa phải giữ vai trò củng cố bản sắc dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia và lan tỏa giá trị Việt Nam ra thế giới. Ảnh minh họa: vietnamhoinhap

Để hiện thực hóa tầm nhìn ấy, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa có giá trị lâu dài. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và ổn định để tạo hành lang pháp lý cho phát triển văn hóa. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế chính sách cho công nghiệp văn hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời mở rộng xã hội hóa văn hóa, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, cộng đồng và kiều bào.

Văn hóa không chỉ là giá trị tinh thần mà còn là nguồn lực kinh tế. Do vậy. cần tập trung đầu tư vào các ngành có lợi thế cạnh tranh như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, du lịch văn hóa, game online. Đồng thời, phải xây dựng thương hiệu văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế, tạo ra những sản phẩm đặc trưng vừa mang dấu ấn dân tộc, vừa đạt chuẩn toàn cầu. Liên kết chặt chẽ văn hóa với du lịch, thương mại, truyền thông sẽ tạo nên chuỗi giá trị mới, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Trong bối cảnh hội nhập, cần làm mới cách thức giáo dục truyền thống. Thay vì chỉ dựa vào sách giáo khoa, nên khai thác các phương thức hiện đại như phim điện ảnh, hoạt hình, trò chơi lịch sử, bảo tàng ảo để thế hệ trẻ được “sống cùng lịch sử”. Đồng thời, cần xây dựng chuẩn mực văn hóa ứng xử trong môi trường số, để ngăn chặn những biểu hiện xuống cấp về đạo đức và lối sống, giữ vững nền tảng nhân văn của dân tộc.

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong bảo tồn và phát huy di sản. Các công nghệ mới như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), trí tuệ nhân tạo (AI) cần được ứng dụng trong bảo tàng, di tích, nghệ thuật biểu diễn. Điều này không chỉ giúp di sản đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ, mà còn mở ra không gian sáng tạo mới cho văn hóa.

Đẩy mạnh ngoại giao văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, chủ động quảng bá văn hóa Việt Nam thông qua các tuần lễ văn hóa, lễ hội nghệ thuật quốc tế, các sản phẩm sáng tạo mang thương hiệu Việt. Đồng thời, biến cộng đồng kiều bào trở thành “cầu nối văn hóa” ở nước ngoài. Ngoại giao văn hóa không chỉ giúp bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về Việt Nam, mà còn góp phần xây dựng hình ảnh một quốc gia thân thiện, sáng tạo, giàu bản sắc.

Con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của văn hóa. Vì vậy, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực sáng tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, tư duy toàn cầu cho thế hệ trẻ, đồng thời nâng cao kỹ năng văn hóa ứng xử, xây dựng lối sống nhân văn, nghĩa tình. Mỗi công dân vừa là người sáng tạo, vừa là người lan tỏa văn hóa, sẽ tạo ra sức mạnh bền vững.

THANH SƠN