Bà Hồng Quân tên thật là Đào Thị Huyền Nga, sinh năm 1947 tại xã Phú An, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ trong gia đình có truyền thống cách mạng. Mới 10 tuổi bà đã tham gia làm liên lạc cho lực lượng cách mạng ở địa phương. Đến năm 1967, khi đang là Bí thư Đoàn xã Phú An, bà được tổ chức tăng cường cho lực lượng cách mạng ở mặt trận Sài Gòn - Gia Định và chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968.

Ngày ấy, đi tăng cường, Hồng Quân được nhận 200 đồng và cải trang thành người buôn bán nhỏ để hợp pháp hóa, quần chúng hóa qua tai mắt của kẻ địch. Sau khi bắt được liên lạc với cấp trên, bà được lệnh xây dựng lực lượng võ trang biệt động nữ Sài Gòn - Gia Định.

Những ngày đầu thành lập, đơn vị biệt động nữ (tiền thân của Tiểu đoàn Biệt động Lê Thị Riêng) dưới sự chỉ huy của Hồng Quân đã tham gia đánh 10 trận, diệt 68 tên Mỹ, ngụy. Trong đó, tiếng vang nhất là trận đánh vào khu Quang Trung (trường huấn luyện sĩ quan của Mỹ, ngụy). Với lối đánh xuất quỷ nhập thần và được quần chúng đùm bọc, tiểu đoàn biệt động nữ trở thành nỗi khiếp đảm của giặc.

leftcenterrightdel
Cô Hồng Quân (thứ 2 từ trái sang) cùng gia đình tổ chức đám giỗ chung cho các đồng đội đã hy sinh trong chiến tranh.

Để chuẩn bị cho đợt 2 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, đầu năm 1968, đơn vị Biệt động được tổ chức thành Tiểu đoàn Biệt động Lê Thị Riêng và Hồng Quân là nữ Tiểu đoàn trưởng đầu tiên. Trong chiến dịch Mậu Thân, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Hồng Quân, Tiểu đoàn Lê Thị Riêng đã tổ chức đánh chiếm những khu vực theo kế hoạch. Tuy nhiên, sau những trận đánh trả ác liệt của Mỹ, ngụy, các chốt khu vực đều bị chiếm lại. Tiểu đoàn trưởng Hồng Quân bị đạn bắn gãy gần đứt rời tay trái, cô đã tự tay dùng dao cắt bỏ để tiếp tục chiến đấu với địch. Sau đó, đạn hết, cô bị giặc bắt và đưa đi cứu chữa để khai thác thông tin.

Bà Hồng Quân ngậm ngùi nhớ lại: “Chúng dùng búa nện vào bàn tay phải của tôi ngay trên giường bệnh để hỏi ám, tín hiệu liên lạc trong nội ô, nhà ém quân, kho vũ khí… Không khai thác được gì, chúng lôi tôi đi đối chứng với em Quang, chiến sĩ trinh sát trẻ của Tiểu đoàn. Trước mặt hai người bọn nó chất vấn Quang:

- “Nhà ém quân ở đâu?”

- “Tôi không biết” – Quang trả lời.

- “Chỉ huy của mày là con gái, nó đang nằm kia đúng không?”.

- “Chỉ huy của tôi đang đánh các ông ngoài mặt trận”, Quang dõng dạc nói.

- “Quân giải phóng bố trí ở đâu?”.

- “Ở những nơi có tiếng súng nổ, các ông biết hết rồi còn gì?”, Quang vừa nói, vừa cười mỉa mai.

Giặc tức tối vì không khai thác được gì dùng báng súng nện vào ngực Quang. “Tôi nghiến chặt răng uất hận nhìn máu từ vết thương, từ miệng em tuôn ra xối xả. “Bỗng nhiên Quang ngẩng đầu lên, ánh mắt em sáng rực: Bọn giặc kinh hãi chùn tay. Quang mỉm cười và hát, ca khúc trước giờ hành động vang lên giữa phòng tra tấn đứt đoạn nhưng rõ ràng: “Không… không thể sống chần chờ hay trông đợi. Tương lai hồng ta phải nắm về ta. Không… không thể nén hờn căm và uất hận. Sống là đây mà chết cũng là đây...”. Rồi máu của Quang lại túa ra. Em cúi đầu bình thản và ra đi khi ánh mắt vẫn còn trừng trừng nhìn thẳng vào quân thù”.

Chính hành động anh dũng của Quang đã làm trái tim người chỉ huy Hồng Quân ứa lệ. Trong ngục tù tối tăm, nhớ về tiếng hát của Quang, trong lòng Hồng Quân tuôn trào dòng thơ và được bà đặt tên là “Tiếng hát giữa phòng tra”: “Quang hát giữa phòng tra/ Ánh mắt như sao trời chiếu rọi/ Giọng hát trẻ trầm hùng bất khuất/ Âm thanh bay vượt khoảng trời xa/ Những ngày trong hành khúc quân ca/ Lòng thép đỏ giữa Sài Gòn đánh giặc/ Thọ thương phải đối đầu trong tù ngục/ Chiếc còng giam đâu khóa được lòng ta/ Giặc dụ hàng hứa chữa trị và sống xa hoa/ Mang thép quật nát vết thương chạm phổi/ Quang cau mày đôi mắt nhìn có lửa/ Để lại đời tiếng hát lúc đi xa”.

Không khai thác được gì, giặc điên cuồng tra khảo. Chúng lại lôi bà đến một căn phòng biệt lập trong đó có một phụ nữ đầu tóc rũ rượi bị cùm tay, chân bị đóng đinh. Ngước mắt nhìn lên thấy dáng hình quen thuộc. “Má! Vậy là má vẫn còn sống và cũng bị địch bắt” – Cắn chặt răng để tiếng kêu chỉ vang lên trong đáy lòng, trái tim Hồng Quân như vỡ vụn.

Sau giây phút ban đầu, kím nén nước mắt vào tâm can, vẻ mặt Hồng Quân bình thản nhìn quân thù. “Má mày à?” - chúng hỏi. “Ai, má tôi đâu?” Bà hỏi lại. “Con cộng sản kia là má mày à?” - bọn chúng quát lên. Bà mỉm cười: “Má tôi đang mần lúa dưới quê. Tôi là quân giải phóng ở Cần Thơ lên đây đánh các ông”.

Giặc tức tối dùng mọi hình thức tra tấn man rợ, vừa đánh vừa tra khảo, bắt hai mẹ, con phải nhận nhau. Thế nhưng, chúng chỉ nhận được sự im lặng của hai người cộng sản kiên trung. Lần nào cũng vậy, chúng đều thất bại nhục nhã. Đến khi chúng đưa về, trong bóng tối lao tù, trong dòng nước mắt mới tuôn chảy, cô Hồng Quân nức nở cảm xúc qua những lời thơ: “Má bị giặc bắt rồi/ Bức tường giam lao đảo/ Đất sụp dưới chân tôi/ Rầm rầm trong phòng khảo, chày nện tôi ình ình/ Hai mẹ con đối diện/ Chân má giặc đóng đinh/ Khảo buộc tôi nhận má/ Khảo buộc má nhận con/ Con bà tay chân đứt/ Bà nhận được chăm con/ Không nhận được bà hiểu/ Con bà kiệt sức rồi/ Là mẹ bà vứt bỏ/ Con bà chết tả tơi/ Máu trào lưng tròng mắt/ Nước mắt chảy vào tim/ Tên khảo cung há hốc/ Trợn trừng im như câm”…

Hiệp định Paris được ký kết, bà Hồng Quân và mẹ được địch trao tự do cùng một ngày. Tiếng “Má ơi!” bị kìm nén trong 6 năm trong lao tù bật vang. Hai mẹ con ôm nhau và khóc như mưa như chưa bao giờ được khóc.

Bài, ảnh: VIỆT HÀ