Cách đây 40 năm đã diễn ra một sự kiện trọng đại trong trang sử hào hùng của hai dân tộc Việt Nam và Campuchia: Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (7-1-1979). Với thắng lợi lịch sử này, quân và dân ta đã đánh tan quân xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng man rợ nhất trong lịch sử loài người, bắt đầu công cuộc hồi sinh đất nước. Đến nay, với độ lùi thời gian, những sự kiện lịch sử ngày càng được sáng tỏ, chúng ta một lần nữa có thể tự hào khẳng định rằng: Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, đối với Việt Nam là cuộc chiến tự vệ, cuộc chiến vì sự nghiệp chính nghĩa, là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia.

Ở Campuchia, ngay sau thắng lợi ngày 17-4-1975, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đã lợi dụng thành quả cách mạng, phản bội lại nhân dân Campuchia. Chúng thiết lập cái gọi là “nhà nước Campuchia dân chủ”, thi hành chế độ diệt chủng, tàn sát nhân dân, thanh trừng nội bộ, giết hại hàng triệu người dân vô tội; phá hủy hàng trăm nghìn trường học, bệnh viện, chùa chiền… Chủ trương tàn bạo của Pol Pot đối với những người chống đối là: “Dù phải diệt thêm một triệu người nữa cũng kiên quyết làm, giết nhầm một kẻ vô tội còn hơn để sót một kẻ chống đối; trong gia đình, nếu một người ra rừng theo chống đối thì sẽ bị giết ba đời”(1). Lực lượng yêu nước cách mạng ở Campuchia đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, như lời của Thủ tướng Campuchia Hun Sen sau này: “Chúng ta chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng và ngồi chờ cái chết”(2).       

leftcenterrightdel
Đoàn công tác của Quân tình nguyện Việt Nam đến thăm, cứu trợ đồng bào Campuchia ngay sau khi đất nước thoát khỏi chế độ diệt chủng.

Đối với Việt Nam, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary xuyên tạc lịch sử, kích động hận thù dân tộc, phát động cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam, gây ra những tội ác đẫm máu đối với người dân vô tội; xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; chà đạp lên những giá trị tốt đẹp của mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Campuchia. Chúng đề ra cái gọi là “đường lối chiến đấu mới”, trong đó xác định: “Chiến tranh giữa ta và Việt Nam là lâu dài, có tính chất gặm nhấm, ta không đánh nó trước thì ta không thắng… Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn, thì có thể đánh 10, 15 đến 20 năm, thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 60 triệu người Việt Nam”(3). Ngạo mạn và hết sức phản động, theo Báo Le Monde (Pháp) ngày 8-1-1978, Pol Pot tuyên bố trên Đài Phát thanh Phnom Penh: “Trong đời tôi, tôi hy vọng giải phóng Sài Gòn”.

Thực hiện tư tưởng phản động đó, ngay khi miền Nam Việt Nam vừa được giải phóng, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đưa quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc (3-5-1975), Thổ Chu (10-5-1975) và sau đó liên tiếp xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta dọc biên giới từ Hà Tiên đến Tây Ninh với quy mô ngày càng lớn. Quân Pol Pot đã tiến hành nhiều vụ thảm sát khủng khiếp đối với dân thường Việt Nam, trong đó có thể kể đến vụ thảm sát ở Ba Chúc (An Giang). Ngày nay, Khu di tích nhà mồ Ba Chúc đang còn chứa đựng 1.159 bộ xương cốt người dân vô tội bị quân Pol Pot giết hại, là một bản cáo trạng, một chứng tích về tội ác “trời không dung, đất không tha” của bè lũ diệt chủng Pol Pot-Ieng Sary.

Những hành động của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary rõ ràng là xâm lược, phi nghĩa, không gì có thể biện minh được. Mặc dù lúc đó Việt Nam có quyền đánh trả và đủ khả năng tiêu diệt hoàn toàn quân xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước, nhưng xuất phát từ tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc, đồng thời tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã kiên trì tìm cách cứu vãn hòa bình, nhiều lần đề nghị đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng. Song, với bản chất phản động, ngoan cố, l