Hướng tới mục tiêu quản lý nợ công an toàn

Phóng viên (PV): Luật Quản lý nợ công 2017 được kỳ vọng là bước tiến mới khi gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân với trách nhiệm quản lý huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ công. Ông nhận định ra sao về điều này?

Ông Trương Hùng Long: Luật này ra đời nhằm tạo khuôn khổ pháp lý phù hợp với các quy định của Hiến pháp 2013, thống nhất, đồng bộ với các quy định của pháp luật về tài chính, ngân sách đầu tư mới được ban hành; khắc phục những tồn tại, hạn chế sau hơn 8 năm triển khai thi hành Luật Quản lý nợ công hiện hành như các tồn tại liên quan đến quy định về cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ, vay nợ của chính quyền địa phương; quản lý rủi ro; thống kê, kế toán, kiểm tra, giám sát nợ công, nâng cao và gắn trách nhiệm giải trình với chức năng, nhiệm vụ quản lý nợ công của các cơ quan có liên quan. Ngoài ra, việc ban hành luật cũng đáp ứng yêu cầu quản lý nợ bền vững, an toàn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, nhất là khi Việt Nam đã chuyển thành quốc gia có thu nhập trung bình thì nguồn vốn ODA trong thời gian tới sẽ giảm dần và kết thúc, thay vào đó là các nguồn vốn vay với điều kiện gần với điều kiện thị trường.

PV: Bộ Tài chính đang chủ trì tổ chức xây dựng 6 nghị định, hướng dẫn chi tiết các nội dung của luật. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn?

Ông Trương Hùng Long: Để hướng dẫn Luật Quản lý nợ công, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng dự thảo 6 nghị định, hướng dẫn chi tiết các nội dung về: Nghiệp vụ quản lý nợ công; trái phiếu Chính phủ; cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, cấp và quản lý bảo lãnh của Chính phủ; quản lý quỹ tích lũy trả nợ và quản lý nợ của chính quyền địa phương. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng một nghị định liên quan tới quản lý vốn ODA, vay ưu đãi.

leftcenterrightdel
Ông Trương Hùng Long.

Trong đó, nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công xác định những nội dung cơ bản: Thứ nhất, công cụ, quản lý nợ là nghiệp vụ mới. Chúng ta phải soát xét lại nội dung: Kế hoạch nợ công 3 năm, 5 năm, hằng năm khớp với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và đầu tư công trung hạn 3 năm, 5 năm và hằng năm. Thứ hai là trần nợ và giới hạn nợ. Tức là khi nào cần cảnh báo và áp dụng các biện pháp. Như vậy, nghị định cũng cần phải làm rõ các kịch bản có thể xảy ra, áp dụng biện pháp nào trong trường hợp nào… Ngoài ra, việc công khai minh bạch thông tin đến toàn dân, các cấp quản lý, tới Quốc hội và các cơ quan giám sát cũng cần sự phối hợp rõ ràng.

Ngưỡng cảnh báo nợ công sẽ được quyết định trong từng thời kỳ       

PV: Như vậy, ngưỡng quản lý nợ công có phải điểm mới nổi bật của luật lần này?

Ông Trương Hùng Long: Đúng vậy, ngoài các quy định về chỉ tiêu an toàn nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm, hạn mức bảo lãnh Chính phủ 5 năm, hằng năm và hạn mức cho vay lại hằng năm thì Luật Quản lý nợ công có điểm rất mới là ngưỡng cảnh báo nợ công. Tức là trước khi chạm trần nợ công sẽ có ngưỡng cảnh báo tình trạng vay của chúng ta. Từ đó có biện pháp kiểm soát lại nguồn vay nợ. Luật Quản lý nợ công ghi rõ ngưỡng nợ công do Quốc hội quyết định trong từng thời kỳ. Như vậy, mỗi thời kỳ 5 năm và trong quá trình điều hành, quản lý khi thấy nợ công đã tiến sát đến trần thì sẽ phải có cảnh báo. 

PV: Theo quy định ở nước ta hiện nay, trần nợ công là 65% GDP. Vậy cụ thể sẽ có những ngưỡng cảnh báo nào? Ông có thể đưa những ví dụ mà các nước đang áp dụng?

Ông Trương Hùng Long: Ví dụ ở Ba Lan, trần nợ công vừa nằm trong quy định chung của Liên minh châu Âu nhưng Ba Lan cũng quy định cụ thể là không quá 60% GDP. Trước khi tới trần sẽ có mức cảnh báo: Từ 48 đến 50% GDP, rồi 50-55% GDP và 55-60% GDP là ngưỡng cuối cùng. Từng ngưỡng một họ có từng cấp độ cảnh báo và cách kiểm soát khác nhau, từ ngưỡng 55 đến 60% GDP là họ ngưng vay mới, kiểm soát các khoản đầu tư của nhà nước chi từ ngân sách.  Hiện nay, chúng ta vẫn đang ở trong luật cũ là trần nợ công ở mức 65%. Năm 2017 nợ đã ở mức 61,3%. Khi Luật Quản lý nợ công 2017 được thực thi, chắc chắn sẽ bàn đến mức ngưỡng cảnh báo phù hợp.

HOÀNG GIANG (thực hiện)