Ngày 13-2, Bộ Y tế ban hành Quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah (NiV), áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Tài liệu hướng dẫn nêu rõ, bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền từ động vật sang người và có thể lây từ người sang người. Virus Nipah được phát hiện lần đầu năm 1998 tại Malaysia, sau đó ghi nhận các đợt bùng phát lẻ tẻ nhưng thường xuyên tại Bangladesh, Ấn Độ, Singapore và Philippines. Bệnh có biểu hiện nặng thường là viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong từ 40% đến 75% hoặc để lại di chứng nặng nề.
 |
Lãnh đạo Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (Bộ Y tế) kiểm tra công tác phòng, chống dịch, ngăn ngừa virus Nipah tại cửa khẩu Quốc tế Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: PHẠM HẰNG
|
Theo Bộ Y tế, virus Nipah là một loại virus RNA sợi đơn thuộc họ Paramyxoviridae, chi Henipavirus. Vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả (chi Pteropus); lợn từng là vật chủ trung gian chính trong đợt dịch tại Malaysia. Hai dòng lưu hành gồm NiV-Malaysia - chủ yếu lây từ động vật sang người, ít lây giữa người; và NiV-Bangladesh/India - độc lực cao hơn, khả năng lây truyền qua tiếp xúc dịch tiết cao hơn. Bệnh lây khi tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh, sử dụng thực phẩm nhiễm chất bài tiết của dơi hoặc qua giọt bắn, dịch tiết hô hấp của người bệnh.
Về biểu hiện lâm sàng, thời gian ủ bệnh dao động từ 3-14 ngày, có thể đến 45 ngày (hiếm gặp). Bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu nhiều, đau mỏi cơ, đau họng, nôn và tiêu chảy. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện biểu hiện thần kinh như chóng mặt, lơ mơ, lú lẫn, mất định hướng; giảm ý thức có thể tiến triển nhanh từ lơ mơ sang hôn mê sâu trong vòng 24-48 giờ. Các triệu chứng khác có thể gặp gồm co giật, yếu chi, liệt mềm, liệt vận nhãn. Bệnh cũng có thể gây biểu hiện hô hấp như ho, khó thở và suy hô hấp tiến triển nhanh. Ở giai đoạn nặng, người bệnh có thể suy đa tạng, suy thận, suy tim, xuất huyết tiêu hóa và nhiễm trùng huyết. Một số trường hợp sống sót có thể bị viêm não tái phát sau nhiều tháng hoặc nhiều năm. Khoảng 20% người sống sót để lại di chứng thần kinh lâu dài như mệt mỏi dai dẳng, thay đổi tính cách, trầm cảm và dấu hiệu thần kinh khu trú.
Về xét nghiệm chẩn đoán, hướng dẫn yêu cầu tuân thủ quy định lấy mẫu, bảo quản, đóng gói và vận chuyển mẫu theo hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh do Bộ Y tế ban hành. Các xét nghiệm gồm phát hiện RNA của virus bằng Real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gen, mẫu bệnh phẩm có thể là dịch tiết đường hô hấp, nước tiểu, máu và dịch não tủy. Xét nghiệm huyết thanh học ELISA được sử dụng để phát hiện kháng thể trong máu hoặc dịch não tủy. Ca bệnh nghi ngờ được xác định là người có yếu tố dịch tễ như trở về từ vùng dịch lưu hành hoặc tiếp xúc với dịch tiết của ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày và có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ; hoặc xét nghiệm huyết thanh học dương tính. Ca bệnh xác định là người có bằng chứng xét nghiệm xác nhận nhiễm virus Nipah thông qua phát hiện RNA của virus.
Hướng dẫn nhấn mạnh nguyên tắc chung trong điều trị là cách ly và kiểm soát nhiễm khuẩn. Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị hỗ trợ tích cực và điều trị triệu chứng là chính. Tất cả ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định phải nhập viện và cách ly ngay tại phòng cách ly riêng biệt hoặc khu vực chuyên biệt; không cho phép người nhà hoặc người không có nhiệm vụ vào thăm người bệnh trong khu vực cách ly.
Trong điều trị triệu chứng, hướng dẫn nêu rõ việc sử dụng paracetamol để hạ sốt và chống chỉ định NSAID do nguy cơ biến chứng chảy máu hoặc hội chứng Reye. Người bệnh được hỗ trợ điều trị các cơ quan tổn thương, hỗ trợ hô hấp tùy tình trạng; chống co giật bằng các thuốc theo khuyến cáo; kiểm soát tăng áp lực nội sọ; đặt nội khí quản bảo vệ đường thở và thở máy trong trường hợp hôn mê sâu. Kháng sinh chỉ sử dụng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát. Việc cân bằng dịch và điện giải được yêu cầu duy trì thông qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch. Các thuốc kháng virus hiện đang nghiên cứu và chưa có khuyến cáo chuẩn.
Hiện chưa có vaccine phòng bệnh do virus Nipah. Các biện pháp phòng bệnh chủ yếu dựa vào ngăn chặn đường lây truyền theo quy định của Bộ Y tế.