Hiện nay, cả nước có hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm khoảng 27% dân số). Nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thời gian qua, tín đồ các tôn giáo đã có những đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Để tôn giáo luôn "đồng hành cùng dân tộc", có nhiều đóng góp thiết thực hơn nữa thì việc phát huy hiệu quả nguồn lực tôn giáo, trong đó có nguồn lực tinh thần là một trong những nội dung quan trọng.

Ảnh minh họa: TTXVN. 

Theo TS Lê Thị Liên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách tôn giáo (Ban Tôn giáo Chính phủ), nguồn lực tinh thần của tôn giáo là giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo, được thể hiện trong hệ thống triết lý, giáo lý, những điều răn... nhằm điều chỉnh ý thức, hành vi của tín đồ và được mỗi tín đồ cũng như cả cộng đồng tôn giáo tin theo, làm theo một cách tự nguyện, tự giác. Nguồn lực tinh thần của tôn giáo trước hết có vai trò quan trọng trong bồi bổ, giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức, văn hóa Việt Nam, bởi tôn giáo khuyên răn con người hướng thiện, "làm lành, lánh dữ"; biết sống vì cộng đồng, đề cao đạo làm người, trân trọng các mối quan hệ gia đình, cộng đồng, tránh xa các tệ nạn xã hội, các biểu hiện tiêu cực... Cũng vì lý do này, xét đến cùng, nguồn lực tinh thần của tôn giáo còn là nguồn gốc, động lực của nguồn lực vật chất tôn giáo. Nếu phát huy hiệu quả nguồn lực tinh thần của tôn giáo sẽ tạo ra nguồn lực vật chất xứng đáng, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.

Làm gì để phát huy hiệu quả nguồn lực tinh thần của tôn giáo? Trao đổi với chúng tôi, TS Lê Thị Liên cho rằng, trước hết phải nhìn nhận đúng, phải coi đây thực sự là một nguồn lực quan trọng, góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, theo đúng tinh thần Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10-1-2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Mặt khác, hiện nay, mặc dù chủ trương của Đảng đã có, nhưng trên thực tế, việc thể chế hóa chủ trương còn chưa đầy đủ, rõ ràng nên quá trình triển khai thực hiện chưa mang lại hiệu quả. Bởi vậy, điều quan trọng là trên cơ sở nhận thức đúng về vị trí, vai trò của nguồn lực tôn giáo, cần cụ thể hóa, thể chế hóa, có cơ chế, chính sách cụ thể để phát huy nguồn lực tôn giáo nói chung, nguồn lực tinh thần của tôn giáo nói riêng. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tôn giáo nhằm tạo cơ sở pháp lý để tôn giáo phát huy giá trị trong đời sống xã hội, phát huy nguồn lực trong phát triển đất nước. Cần sơ kết, tổng kết quá trình thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo để sửa đổi, bổ sung phù hợp; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số luật chuyên ngành có liên quan đến tôn giáo, nhất là những nội dung còn vướng, còn thiếu hoặc bất cập, vênh nhau nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất...

PHƯƠNG HIỀN