Năm 2021, gia đình Đại úy QNCN Trần Đình Nhật, Phó đội trưởng Đội 6 (Đoàn KT-QP 74) kết nghĩa với gia đình anh Rơ Mah Bích, từ đó hai gia đình xem nhau như anh em ruột thịt trong nhà, giúp nhau phát triển kinh tế, nuôi dạy con cái. Đại úy QNCN Trần Đình Nhật cũng đã giới thiệu anh Bích vào làm công nhân tại đơn vị và "cầm tay chỉ việc" để anh Bích nắm bắt quy trình, rèn luyện tay nghề, kỹ thuật chăm sóc, khai thác mủ cao su, từng bước trở thành một người thợ lành nghề, có thu nhập ổn định.
Chị Phạm Thị Nguyệt, vợ Đại úy QNCN Trần Đình Nhật cũng thường xuyên đến nhà hướng dẫn chị Ksor Biăng, vợ anh Bích trồng rau xanh, nuôi gà, chăm sóc, nuôi dạy con cái... Chị Ksor Biăng tâm sự: “Cuộc sống của vợ chồng tôi trước đây khó khăn lắm, kinh tế thiếu trước hụt sau, các con không được chăm sóc đầy đủ. Từ ngày kết nghĩa với gia đình anh Nhật, mọi việc trong gia đình tôi đều thay đổi tốt lên. Anh chị xem chúng tôi như những người em trong gia đình, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn”.
 |
Các cặp “Kết nghĩa bền chặt” của Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 74 thường xuyên thăm hỏi giúp nhau trong công việc và cuộc sống.
|
Đến làng Biă, xã Ia Chia (Gia Lai), chúng tôi được người dân kể nhiều về hình mẫu kết nghĩa bền chặt giữa gia đình anh Trần Văn Hải, công nhân Đội 15 (Đoàn KT-QP 74) với gia đình anh Rơ Lan Binh, dân tộc Gia Rai. Trước khi kết nghĩa (năm 2016), mặc dù gia đình anh Binh có rẫy nhưng chỉ trồng cây mì và các loại cây năng suất thấp, vì thế kinh tế còn nhiều khó khăn. Sau khi kết nghĩa, anh Hải trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ ngày công để anh Binh chuyển đổi sang trồng điều, cà phê, từ đó cuộc sống gia đình anh Binh thay đổi tích cực. Hiện gia đình anh Binh có thu nhập mỗi năm hơn 200 triệu đồng, xây dựng được nhà và mua nhiều vật dụng sinh hoạt có giá trị.
Đoàn KT-QP 74 thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn 26 thôn, làng, tổ dân phố của 6 xã thuộc tỉnh Gia Lai. Địa bàn có 16 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó, DTTS chiếm hơn 50%, mặt bằng dân trí không đồng đều và vẫn còn ảnh hưởng của các hủ tục... Trước thực trạng đó, từ năm 2006 đến nay, Đoàn KT-QP 74 đã sáng tạo và thực hiện mô hình “Gắn kết hộ”-“Kết nghĩa bền chặt” giữa hộ gia đình công nhân người Kinh với hộ gia đình đồng bào DTTS địa phương.
Từ những cặp hộ đầu tiên, đến nay Đoàn KT-QP 74 đã có 416 cặp hộ xem nhau như anh em ruột thịt, giúp nhau hàng nghìn ngày công lao động, hỗ trợ nhau kỹ thuật, cây giống, con giống để phát triển kinh tế. Theo Đại tá Hà Văn Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó đoàn trưởng Đoàn KT-QP 74, thông qua mô hình “Gắn kết hộ” - “Kết nghĩa bền chặt”, các cặp hộ đã tuyên truyền, vận động 8.988 lượt thợ từng bước nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập. Nếu như năm 2006 tiền lương bình quân chỉ đạt 2,2 triệu đồng/người/tháng thì đến năm 2025, tiền lương bình quân đã lên đến 7 triệu đồng/người/tháng, có nhiều hộ đạt 10-12 triệu đồng/người/tháng. Qua đó giúp 1.184 lượt hộ thoát nghèo bền vững, xóa hoàn toàn hộ đói, nhiều gia đình là đồng bào DTTS không chỉ no đủ mà trở nên giàu có, nhiều hộ có thu nhập 200-300 triệu đồng/năm.
Bên cạnh đó, các cặp “Kết nghĩa bền chặt” còn động viên, hỗ trợ nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, là hạt nhân trong tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ đó, từ năm 2006 đến nay, những cặp hộ “Kết nghĩa bền chặt” và người lao động của đơn vị không vượt biên trái phép, không vi phạm pháp luật. Tình hình an ninh chính trị, an ninh biên giới, an ninh nông thôn được giữ vững, thế trận quốc phòng, an ninh, nhất là “thế trận lòng dân” được củng cố vững chắc.
“Đặc biệt, mô hình “Gắn kết hộ” - “Kết nghĩa bền chặt” được Ban Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh đoàn 15 chỉ đạo nhân rộng trong toàn Binh đoàn và đã có 4.269 cặp gắn kết. Năm 2024, Bộ tư lệnh Binh đoàn 15 tiếp tục chỉ đạo xây dựng Câu lạc bộ “Cặp hộ 4 tốt” để phát huy tốt hơn nữa hiệu quả của mô hình này. Đảng ủy, Ban chỉ huy Đoàn KT-QP 74 cũng xác định, mô hình “Gắn kết hộ”-“Kết nghĩa bền chặt” là một nội dung quan trọng, một cách làm sáng tạo trong công tác dân vận vùng đồng bào DTTS, tiếp tục sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm để lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai toàn diện, chặt chẽ, hiệu quả hơn trong thời gian tới”, Đại tá Hà Văn Nam nhấn mạnh.