Khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO và bắt đầu tiến hành thực hiện các cam kết của mình, trách nhiệm của các cơ quan tư pháp rất nặng nề. Bởi trong "sân chơi" này, rủi ro lớn nhất là về mặt pháp lý. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của mình, ngành đã xác định những thách thức phải vượt qua…
Rà soát hơn 310 văn bản pháp luật liên quan trực tiếp
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Uông Chu Lưu khẳng định: Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật bắt nguồn từ chính sự phát triển nội tại của đất nước. Tiếp đó là tác động từ bên ngoài, mà nổi bật là từ việc gia nhập WTO, đã buộc Việt Nam phải có sự điều chỉnh để thực thi các cam kết. Ngành Tư pháp đã tiến hành rà soát, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam với các quy định trong Hiệp định của WTO, tập trung vào 3 lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Có hơn 310 văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến các quy định của WTO. Trên cơ sở đó, Bộ đã đề nghị sửa đổi, bổ sung hàng chục văn bản; đồng thời Chính phủ, Quốc hội đề ra chương trình xây dựng pháp luật mới với gần 70 văn bản luật, pháp lệnh có liên quan trực tiếp tới WTO.
 |
|
Bước vào hội nhập, doanh nghiệp cần được quan tâm bảo vệ về pháp lý-sản xuất động cơ dầu xuất khẩu ở Công ty cổ phần Vinappro (ảnh TTXVN) |
Nhiều chuyên gia nước ngoài đánh giá cao việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật của Việt Nam đáp ứng yêu cầu của WTO. Nhưng họ cũng cảnh báo nếu Việt Nam không thực hiện đầy đủ các cam kết thì sẽ không thể khai thác được những cơ hội mà WTO đem lại, mà còn bị trừng phạt. Vì vậy, cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật; thúc đẩy việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường bằng hoạt động lập pháp; tránh ban hành những văn bản pháp luật mà đối tác có thể lợi dụng để áp đặt các biện pháp chống bán phá giá…
Bộ Tư pháp cũng nhận định: Hồ Sơ cam kết của Việt Nam cho thấy sẽ phải có những thay đổi đáng kể trong một số quy định của pháp luật nước ta và còn nhiều vấn đề pháp luật đòi hỏi ngành tư pháp tiếp tục nghiên cứu, xử lý. Ví dụ, một số khái niệm như: "thương mại", "hàng hóa", "hàng hóa tương tự", "xuất xứ hàng hóa", "dịch vụ", "thương mại dịch vụ", định nghĩa của ta còn khá khác biệt so với ách hiểu của WTO. Thương mại quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng, trong khi pháp luật thương mại Việt Nam lại hiểu hạn hẹp về vấn đề này. Vì vậy mà trong thực tế đã nảy sinh không ít phức tạp. Luật Thương mại và Luật Hải quan của ta hiện nay đang có định nghĩa về thuật ngữ "hàng hóa" rất khác nhau…
Rồi những vấn đề về giải quyết mối quan hệ giữ quy chế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn của Hoa Kỳ (PNTR). Nghiên cứu những quy định về đối xử quốc gia và các các vấn đề có liên quan: thuế quan; thuế tiêu thụ đặc biệt; phí nội địa; quy chế vệ sinh dịch tễ động, thực vật, các biện pháp kỹ thuật và chất lượng hàng hóa; các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường thương mại dịch vụ… Các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, liên quan đến pháp luật về đầu tư, liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại cũng phải được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện sớm.
Xử lý các vấn đề nảy sinh khi thực hiện cam kết
Hệ thống luật lệ của WTO khá đồ sộ, phức tạp, hội tụ các tư tưởng, trường phái pháp luật khác nhau, được thiết kế để quản trị một cơ chế đa biên, vận hành theo luật chơi của kinh tế thị trường. Để đáp ứng yêu cầu thực hiện các hiệp định của tổ chức này, ngành tư pháp đã kiến nghị Chính phủ gia nhập Công ước Viên năm 1969 về Luật các điều ước quốc tế về phối hợp soạn thảo trình Quốc hội thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005. Song, hiểu đúng và chấp hành nghiêm các luật lệ của WTO là thách thức không nhỏ trong hoạt động pháp luật.
Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế Hoàng Phước Hiệp cho rằng: Không hề đơn giản khi ta vừa nghiêm chỉnh chấp hành các luật lệ và cam kết quốc tế, vừa thực thi các quy định của pháp luật trong nước liên quan đến điều chỉnh vấn đề áp lực cạnh tranh quốc tế đối với các ngành hàng hóa, dịch vụ nội địa. Trong đó bao gồm cả việc xử lý các quan hệ với nước ngoài trong cạnh tranh thương mại với Việt Nam và nguy cơ nhập siêu có thể tiếp tục.
Thực tế hiện nay, có không ít doanh nghiệp vẫn chưa hiểu rõ luật lệ của WTO; không nhận thức đầy đủ sự cạnh tranh sẽ khốc liệt như thế nào; ai là đối thủ cạnh tranh, họ sẽ làm gì và mình ứng phó ra sao cho tốt… Một số vụ tranh chấp kinh tế, thương mại quốc tế chỉ mới đánh thức họ cần sử dụng luật sư tư vấn trong một số vấn đề. Trong khi đó, tổ chức này có cơ chế giải quyết tranh chấp rất phức tạp. Vì vậy mà yêu cầu giảm thiểu và tránh những xung đột kinh tế, tranh chấp thương mại có thể phát sinh giữa Việt Nam và các thành viên khác là rất cấp thiết.
Nhiều chuyên gia cho rằng, phải đổi mới tư duy pháp lý, tư duy tư pháp, đổi mới quan niệm công vụ, công chức và phương pháp, tác phong, cách thức xử lý các vấn đề pháp lý-kinh tế-chính trị. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, chuyển đổi chức năng chủ yếu là quản lý nhà nước sang phục vụ công là chính để cải thiện tính công khai, minh bạch và hiệu quả. Mỗi cán bộ, công chức trong ngành phải đổi mới tư duy thực thi pháp luật; nắm vững luật quốc tế, luật chơi WTO và thương mại toàn cầu nhằm nâng cao năng lực xử lý các vấn đề và tuyên truyền sâu rộng tới mọi tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, thiết lập các tổ chức xã hội trung gian, bổ trợ cho các hoạt động liên quan đến kinh tế, thương mại như các hiệp hội, các tổ chức ngành hàng, tổ chức luật sư cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tránh các tranh chấp thương mại, giải quyết tốt vụ việc và hạn chế hậu quả…
Củng cố đội ngũ cán bộ tư pháp
Việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp nòng cốt về WTO và hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định là có vai trò rất quan trọng. Tuy niên, công việc này đến nay vẫn còn được tiến hành chậm và chưa được quan tâm đúng mức.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thị Thu Ba báo động nguy cơ dịch chuyển nhân tài của nhà nước sang khu vực tư nhân. Vì vậy, không chỉ là việc bồi dưỡng và đào tạo lực lượng chuyên gia pháp lý kế cận mà còn phải tính đến cả lực lượng chuyên gia tư pháp đang thực thi công vụ trên phạm vi toàn quốc. Nếu vấn đề đó không được xử lý đúng thì khu vực nhà nước sẽ thiếu hụt những chuyên gia về lĩnh vực này. Chưa kể WTO yêu cầu phải thực thi pháp luật thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ của nước thành viên, nên mọi cán bộ, công chức cơ quan pháp luật phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định theo yêu cầu của tổ chức đó.
Trách nhiệm của ngành là phải rà soát chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên và các công cụ, phương tiện giảng dạy để có giải pháp đổi mới, có chính sách, chế độ phù hợp. Chú trọng triển khai việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật liên quan đến hội nhập kinh tế và WTO bằng tiếng Anh.
Có nhiều ý kiến nhấn mạnh vai trò của đội ngũ luật sư có trình độ năng lực, để tham gia vào việc tư vấn pháp luật cho các hoạt động thương mại quốc tế của Nhà nước cũng như doanh nghiệp; kể cả tham gia vào giải quyết các tranh chấp thương mại. Hiện nay, đội ngũ này còn hạn chế về kiến thức pháp luật, nhất là pháp luật quốc tế, thương mại quốc tế và kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp thương mại. Việc thường xuyên đánh giá, tuyển chọn những luật sư giỏi, trẻ tuổi, có trình độ ngoại ngữ để cử đi tu nghiệp ở nước ngoài, học tập tại các hãng luật quốc tế; hoặc mới chuyên gia quốc tế vào tổ chức đào tạo trong nước, để có những thế hệ luật sư đáp ứng được nhu cầu hội nhập đang là vấn đề rất cấp bách.
HẠNH NGUYÊN