QĐND - Sau khi nghiên cứu đề án của TS Hồ Bá Quỳnh và khảo sát kết quả ứng dụng mô hình “Hưu nông dân” ở một số địa phương, kết quả cho thấy: Mô hình đã nhận được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo nông dân và mang đến cho nông dân nhiều lợi ích thiết thực. Có thể khái quát thành những công thức đơn giản sau:
Hình thức đóng quỹ hưu nông dân: Tự nguyện + Mức đóng phù hợp với thu nhập (không ảnh hưởng đến đời sống của nông dân) = Có lãi (khi được gửi vào ngân hàng, nhà nước không tính thuế) + Tạo thu nhập cho nông dân lúc “nghỉ hưu” + Hợp lòng dân + Nâng cao an sinh xã hội.
Cơ sở để giải quyết vấn đề “Hưu nông dân” là người nông dân tự nguyện, mỗi tháng đóng tối thiểu 10.000 đồng gửi vào Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tối đa không giới hạn). Người nông dân có quyền đóng liên tục trong nhiều năm; một người có thể đóng nhiều suất. Với mức đóng và hình thức đóng như vậy, có thể huy động được sự tham gia đông đảo của nông dân. Thực tế, ở Nghệ An, “Hưu nông dân” được thực hiện năm 1998, đã có gần 9 vạn người tham gia với số vốn hơn 100 tỷ đồng, có 96 người đã được lĩnh “lương hưu” hằng tháng (do đóng góp đủ 20 năm). Phong trào từ Nghệ An đã lan sang các tỉnh khác, như làng: Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên, tổng quỹ lương hưu lên tới hơn 5 tỷ đồng với gần 1000 nông dân được hưởng. Ở làng Ất, phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh tổng quỹ hưu hơn 2 tỷ đồng và có 500 nông dân (từ 60 tuổi trở lên) được hưởng “lương hưu”. Như vậy, dù đồng lương hưu ít hay nhiều đều là nguồn động viên vật chất cho người nông dân lúc hết tuổi lao động. Việc nhân rộng mô hình là hợp lòng dân và thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của chế độ, góp phần an sinh xã hội của một đất nước có hơn 80% dân số là nông dân.
Hình thức quản lý, lưu động vốn và đầu tư tái sản xuất: Quỹ hưu (gửi vào ngân hàng) + Lãi suất (có được do gửi ngân hàng) + Cho vay (hoặc đầu tư sản xuất, tái sản xuất) = Quỹ hưu mới (cao hơn quỹ hưu cũ) + Lương hưu mới (cao hơn lương hưu cũ) = Nâng cao đời sống nông dân (cả trong độ tuổi lao động và cả khi đã “nghỉ hưu”).
Từ vốn quỹ ban đầu (do nông dân đóng góp hằng tháng, hằng năm), quỹ nông được nộp vào ngân hàng (Nhà nước không đánh thuế). Vốn sẽ sinh lãi, nhờ ngân hàng lưu động vốn hoặc cho nông dân vay sử dụng đầu tư sản xuất quy mô lớn hoặc cho các thành viên vay lãi suất thấp. Đây là biện pháp vừa tạo vốn cho nông dân đầu tư sản xuất, vừa gây thêm quỹ hưu nông dân. Ở thôn Ất, trong số 2 tỷ đồng quỹ hưu nông dân có 600 triệu đồng dành cho hội viên vay làm kinh tế. Nhờ đồng vốn mà nhiều nông dân thoát nghèo. Ông Nguyễn Văn Luyến, nông dân thôn Ất cho biết: “Năm 2002, tôi vay 20 triệu đồng từ quỹ lương hưu, đầu tư làm ao thả cá, nuôi heo, đến nay đã trở thành một hộ gia đình khấm khá trong làng. Quả thật quỹ không chỉ có ích cho những người nông dân hết tuổi lao động mà rất hữu ích với những người đang lao động sản xuất như tôi”. Thấy được hiệu quả từ việc “đóng quỹ”, gần như mọi nông dân ở thôn Ất đều tham gia đóng góp. Thậm chí thanh niên 24-25 tuổi, mỗi tháng cũng trích một phần thu nhập đóng quỹ hưu mong về già sẽ được có “lương hưu”.
Từ những lợi ích mà mô hình mang lại, thiết nghĩ cần nhân rộng “Hưu nông dân” trên phạm vi rộng. Đây là biện pháp hữu hiệu, góp phần vào nâng cao chất lượng dân sinh nói chung, đời sống người nông dân nói riêng.
Tấn Tuân