QĐND Online - Vào đầu những năm 1970, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang trong giai đoạn vô cùng khó khăn, ác liệt. Sự hy sinh, mất mát của chiến sỹ và đồng bào cả nước, nhất là ở mặt trận tiền tuyến diễn ra từng ngày, từng giờ. Trong cuộc chiến tàn khốc ấy, những người lính chiến đấu không sợ hy sinh, sẵn sàng dâng hiến cả tuổi trẻ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, song họ vẫn tràn đầy niềm tin về cuộc sống, khát vọng về tình yêu. Sự gặp gỡ tình cờ của anh Vũ Đăng Việt và chị Quách Thị Sáu ở đơn vị Thông tin Mặt trận 4 Quảng Đà là một trong số rất nhiều mối tình tuyệt đẹp ngày ấy…
Anh, người con trai quê lúa Thái Bình trẻ trung, tràn đầy nhiệt huyết. Chị, người con gái đất Quảng duyên dáng mà đảm đang. Giữa mưa bom đạn lửa, họ đã gặp nhau, mến nhau và yêu nhau say đắm. Họ tự nhủ sẽ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, dù có hy sinh họ vẫn sẵn sàng và tình yêu sẽ còn mãi mãi.
Xuất phát từ tình yêu chân chính, năm 1973 anh chị đã báo cáo với Đảng uỷ và chỉ huy Tiểu đoàn. Được sự chấp thuận, anh chị đã tổ chức lễ cưới tại đơn vị. Chiến tranh, các thủ tục đều đơn giản. Anh chị đã được đơn vị sắp xếp riêng một “phòng” hạnh phúc trong lán trại. Do không thể về quê ra mắt bố mẹ, anh chị đã viết thư về báo tin vui với gia đình hai bên. Về thủ tục pháp lý, anh chị không có điều kiện đi đăng ký kết hôn. Qua năm tháng, tình yêu của hai người đã đơm hoa kết trái, hạnh phúc càng tăng lên khi chị Sáu sinh được bé trai Vũ Mạnh Hà, cả đơn vị cùng chung vui sau những trận đánh ác liệt, nơi núi rừng heo hút lại có tiếng khóc trẻ thơ. Hân hoan trong niềm vui riêng, anh chị càng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đúng như lời một nhà văn đã viết “Sự sống nẩy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ những hy sinh, gian khổ”.
Tháng 3 – 1975, trong một trận chiến, anh Việt đã hy sinh anh dũng tại Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Chiến tranh làm con mất cha, vợ mất chồng và đồng đội mất đi một đồng chí thân yêu. Nén nỗi đau riêng, chị tự khắc phục gian khó, thay chồng nuôi con và tiếp tục chiến đấu tới ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Năm 1976, vì điều kiện kinh tế quá khó khăn, vết thương tái phát, con nhỏ nên chị về phục viên tại quê nhà. Tuy nhiên, đến nay đã 37 năm, mối quan hệ hôn nhân giữa liệt sĩ Vũ Đăng Việt và chị Quách Thị Sáu vẫn chưa được công nhận.
Giữa năm 2010 đại diện gia đình liệt sỹ Vũ Đăng Việt đã tìm đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình đề nghị trợ giúp, hồ sơ vụ việc đã được thụ lý. Sau khi nghiên cứu các tài liệu hiện có cùng với những quy định của pháp luật, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Bình đã có văn bản kiến nghị gửi các cơ quan liên quan, khẳng định mối quan hệ hôn nhân giữa ông Vũ Đăng Việt và bà Quách Thị Sáu là quan hệ hôn nhân thực tế và được xem là có giá trị pháp lý, quan hệ vợ chồng được công nhận từ thời điểm bắt đầu chung sống (năm 1973). Đồng thời đề nghị các cơ quan giải quyết chế độ cho thân nhân liệt sĩ Vũ Đăng Việt.
Sau một thời gian, nhờ sự phối kết hợp giữa Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình nơi đang quản lý hồ sơ liệt sĩ và Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam nơi thân nhân chủ yếu của liệt sĩ cư trú, bà Quách Thị Sáu và con trai đã được giải quyết chế độ theo đúng qui định.
Giờ đây, tuy không có cơ hội cầm trong tay tờ giấy đăng ký kết hôn, nhưng với Bản kiến nghị của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình và Quyết định chi trả trợ cấp hàng tháng do Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam cấp, bà Quách Thị Sáu đã được công nhận là vợ liệt sĩ, danh đã chính, ngôn đã thuận. Bà Sáu nghẹn ngào, xúc động như chính bà bây giờ mới được cưới, làm vợ liệt sĩ. Bản thân là người lính, anh chị em ruột cũng đã hy sinh, mẹ đẻ được Nhà nước phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng nên hơn ai hết, bà Sáu thấu hiểu sự mất mát, đau thương. Dù chiến tranh đã qua đi hơn 35 năm nhưng tàn dư của nó để lại vẫn còn nặng nề lắm.
Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương, chính sách đãi ngộ đối với người có công và thân nhân của họ, thể hiện sự tri ân của thế hệ hôm nay đối với người đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Những người làm công tác trợ giúp pháp lý đang chung tay, góp sức vào nhiệm vụ chung này.
Hà Thị Nhàn
Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Thái Bình