QĐND - Giờ đây, khi điều kiện sống của người dân đang ngày càng được cải thiện, nâng cao, về cơ bản “người phố thị” đã có nước sạch, còn đối với “dân nhà quê” thì chuyện nước không hợp vệ sinh (và nhiều nơi còn không cả… nhà tiêu) vẫn là điều đáng quan tâm.
Vậy, chúng ta đã làm được những gì để thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị trong thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn?
Có cải thiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu
Mới đây, khi đề cập đến vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn, một vị đại diện của ngành y tế đã dẫn ra một chi tiết thú vị xoay quanh cái… nhà tiêu. Ông nói: “Tôi đã đi nhiều nơi, thấy có một chuyện lạ, đó là nhiều vùng nông thôn, người dân xây chiếc nhà rất hoành tráng nhưng lại không xây nhà vệ sinh. Hằng ngày, già, trẻ, gái, trai khi có “nhu cầu” là… ra đồng, làm ô nhiễm cả một vùng. Lại có gia đình làm được hố xí 2 ngăn hẳn hoi (một ngăn dùng để ủ phân), nhưng đến mùa họ vẫn lấy phân sống cả hai ngăn để bón cho cây trồng, rất mất vệ sinh”.
Còn trong hội nghị tổng kết giai đoạn 2 Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (từ năm 2006 đến năm 2010), ông Vũ Văn Thặng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) mạnh dạn đề cập đến “cái được” và “cái chưa được” của vấn đề này bằng một câu khái quát: “Vệ sinh môi trường nông thôn đã có cải thiện nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu; còn tồn tại nhiều khó khăn, thử thách nên kết quả chưa như mong đợi”.
 |
| Người dân xã Sủng Là, huyện Đồng Văn (Hà Giang) dùng nước sạch từ công trình hồ treo do Chính phủ đầu tư xây dựng. Ảnh: Trường Giang |
Theo ông Thặng, “cái được” rõ nhất là đến hết năm 2010, cả nước đã có khoảng 11.586.185 hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu (chiếm 77%), trong khi đó 9.124.536 hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, tăng 1.762.000 hộ so với khi bắt đầu thực hiện Chương trình giai đoạn 2 (trung bình tăng 2,0%/năm) nâng tỷ lệ số hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh là 50% cuối năm 2005, lên 60% năm 2010. Tuy nhiên, kết quả đó vẫn thấp hơn 10% so với mục tiêu đề ra.
Vẫn theo ông Vũ Văn Thặng, một trong những nguyên nhân chính là do điều kiện kinh tế của người dân còn khó khăn, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nhận thức của nhiều người chưa cao, chưa thực sự quan tâm đến vấn đề vệ sinh cá nhân, vệ sinh hộ gia đình, đặc biệt là việc xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh. Việc thiết lập được hệ thống cán bộ cấp cơ sở, đặc biệt là tuyến xã và thôn, bản để thực hiện nhiệm vụ này (mà trọng tâm là công tác truyền thông vận động) còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, chế độ quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho trương trình còn nhiều bất cập, không có mục chi hỗ trợ cho cán bộ tuyến thôn, bản.
|
“Tính đến hết năm 2010, tổng số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 52.122.468 người, tăng 13.260.000 người so với cuối năm 2005; tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 62% lên 83%, trung bình tăng 4,2% năm (tương đương với tốc độ tăng của giai đoạn 1999-2005) cơ bản đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/BYT trở lên là 42%, thấp hơn 8% so với mục tiêu đề ra”.
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
|
Điều mà ai cũng dễ dàng nhận thấy, hiện nay quỹ đất ở nông thôn ngày càng bị thu hẹp, rác thải chưa được xử lý gây ô nhiễm môi trường đã đến lúc báo động. Trong những năm qua, nhiều địa phương cũng đã có tổ thu gom rác thải, song tỷ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom hiện nay rất thấp, biện pháp xử lý chủ yếu là đổ lộ thiên và đốt thủ công, hầu như chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh và tái chế rác vô cơ… Vì vậy, việc xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi ở nông thôn sẽ là vấn đề nóng cần giải quyết trong những năm tới.
Nước sạch hợp vệ sinh đã đến đâu?
Theo Chánh văn phòng thường trực Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Hạ Thanh Hằng: Đến hết năm 2010, trong 7 vùng kinh tế sinh thái của cả nước, thì vùng Đông Nam bộ có tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 89%, cao hơn trung bình cả nước 6%. Thấp nhất là vùng miền núi phía Bắc (chỉ đạt 78%) và vùng Tây Nguyên mới đạt 74%, thấp hơn trung bình 9%.
Tất nhiên, nếu “bóc tách” cụ thể hơn thì việc sử dụng nước hợp vệ sinh giữa các tỉnh thuần nông lại có sự chênh lệch khá lớn với các địa phương là... thành phố. Chẳng hạn, chỉ có 10/63 tỉnh đã đạt tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt rất cao (khoảng hơn 90%) như Hà Nội (93%), Hải Phòng (92%), Bắc Ninh (92%), Đồng Nai (90%), Bà Rịa-Vũng Tàu (98%), Thành phố Hồ Chí Minh (97%), Tiền Giang (96%)… Hiện đã có 20/63 tỉnh đạt tỷ lệ ở mức cao (từ 83% đến 90%); 20/63 tỉnh đạt tỷ lệ trung bình (từ 75% đến 83%) và 13/63 tỉnh đạt tỷ lệ bao phủ thấp (chỉ dưới 75%).
Đề cập đến việc tiếp tục “phủ kín” những vùng nông thôn chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh, Tiến sĩ Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ nhiệm Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, khẳng định: Mục tiêu chương trình trong giai đoạn 3 (từ năm 2011 đến năm 2015), là sẽ không còn những vùng nông thôn Việt Nam “khát” nước sinh hoạt hợp vệ sinh, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phấn đấu nâng cao tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước đạt tiêu chuẩn, đồng thời môi trường sống cũng như điều kiện vệ sinh của người dân nông thôn được cải thiện rõ rệt.
Còn ông Vũ Văn Thặng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi bày tỏ, giai đoạn 3 của Chương trình sẽ tập trung thúc đẩy khuyến khích đầu tư và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và tính bền vững về cấp nước sạch, thúc đẩy các công trình nước sạch nông thôn ở các vùng biển đảo, vùng đặc biệt khó khăn về nguồn nước, giám sát chất lượng nước dùng cho sinh hoạt, cải thiện môi trường chăn nuôi và xử lý nước thải, chất thải làng nghề… Theo đó, đến hết năm 2015 sẽ có 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 60% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn QCVN 02-BYT trở lên, với số lượng ít nhất là 60 lít/người/ngày; 75% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 65% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh, trong đó 30% chuồng trại được xử lý bằng hầm biogas. Các trường học mầm non, phổ thông, trạm y tế xã, chợ, trụ sở xã ở nông thôn… có đủ nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh và được quản lý, sử dụng tốt...
Chương trình đã khai thông, rộng mở, mục tiêu cũng rõ ràng, phù hợp. Điều cần thiết nhất hiện nay là các cấp, các ngành và từng hộ dân phải cùng “chung lưng đấu cật” để vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từng bước được như… phố thị!
Lê Thiết Hùng