Tiếp cận thông tin - quyền căn bản của mọi công dân

Quyền tiếp cận thông tin được khẳng định trong nhiều điều ước quốc tế; được ghi nhận như một trong những quyền cơ bản của con người và được các văn kiện pháp lý quốc tế xếp trong nhóm các quyền dân sự-chính trị được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên.       

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “quyền tiếp cận thông tin” được sử dụng để biểu đạt một loại quyền rất căn bản mà mọi người ở tất cả quốc gia đều có quyền được hưởng, dù theo cách thức trực tiếp hay gián tiếp, đó là quyền được biết thông tin của Nhà nước để thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.

Việc tiếp cận thông tin của người dân sẽ ngày càng thuận lợi hơn. Ảnh: phapluatvn.

Luật Tiếp cận thông tin với kết cấu 5 chương, 37 điều, được bố trí khoa học, nội dung cụ thể cho thấy Việt Nam rất coi trọng luật này. Đây là một trong những luật được ưu tiên ban hành trong nhóm các dự án luật liên quan đến bảo đảm quyền con người. Theo nguyên tắc của luật, mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Công dân được tự do tiếp cận thông tin của cơ quan Nhà nước; hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước cung cấp thông tin. Việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. 

Công dân không được tiếp cận thông tin thuộc bí mật Nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác theo quy định của luật.     

Công cụ tăng cường tính minh bạch, phòng và chống tham nhũng

Khái niệm quyền được thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1766 tại Thụy Điển trong Luật về tự do báo chí. Đạo luật này một mặt cho phép tự do ngôn luận “trừ trường hợp báng bổ và chỉ trích Nhà nước”, mặt khác, công nhận cho công dân có quyền được “tiếp cận tài liệu công”. Đây là hai khía cạnh cơ bản, quan trọng nhất trong nội hàm của khái niệm quyền tiếp cận thông tin. Đến thế kỷ 20, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà lập pháp quốc tế mới phát triển khái niệm này đến một biên độ mới, đem đến cho nó những sắc thái mới của thời kỳ dân chủ và quyền bình đẳng của con người trên bình diện toàn thế giới. Đó chính là nền tảng để khái niệm này được chính thức ghi nhận trong hai công ước quốc tế là Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.

Đây chính là hai văn kiện pháp lý quốc tế có tính chất nền tảng ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền tiếp cận thông tin được coi là quyền cơ bản nhất trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó. Sau khi được chính thức ghi nhận trong hai văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng khác, như: Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển năm 1992, Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường… Trong Nguyên tắc Johannesburg về an ninh quốc gia, tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin năm 1995 cũng ghi nhận quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin, thẩm quyền của chính phủ trong việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin nhưng chỉ trong trường hợp cần thiết và chỉ khi ảnh hưởng tới quyền lợi và an ninh quốc gia một cách hợp pháp (cơ sở này là tiêu chuẩn của luật quốc tế và khu vực).

Luật Tiếp cận thông tin đi vào cuộc sống cũng là dấu mốc quan trọng trong thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia (liên quan đến quyền con người). Luật Tiếp cận thông tin của Việt Nam được các chuyên gia trong nước và quốc tế đánh giá là có tiếp thu, chọn lọc. Tuy ra đời muộn hơn so với các nước nhưng việc đưa luật này đi vào cuộc sống sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân được tiếp cận với thông tin một cách chính đáng trên nhiều lĩnh vực. Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, hội nhập quốc tế, đưa Luật Tiếp cận thông tin vào cuộc sống góp phần xây dựng xã hội cởi mở hơn về thông tin và một chính phủ công khai, minh bạch hơn; trách nhiệm giải trình cao hơn trong hoạt động quản lý, điều hành đất nước.

Không chỉ ở Việt Nam, ngày càng có nhiều quốc gia công nhận tầm quan trọng của tiếp cận thông tin không chỉ với tư cách là một trong những quyền cơ bản của con người mà còn là một công cụ quan trọng góp phần nâng cao khả năng điều hành của chính phủ, tăng cường tính minh bạch, phòng và chống tham nhũng trong hoạt động của các cơ quan công quyền.

NGUYỄN HÒA