Do “thiên tai và nhân tai”
Giáo sư Trần Thục, Phó chủ tịch Hội đồng tư vấn, Ủy ban Quốc gia về biến đổi khí hậu (BĐKH) cho rằng: “Dưới tác động của BĐKH, sự bất thường của thời tiết cực đoan và thiên tai sẽ trầm trọng hơn trong tương lai, khiến cho việc dự báo, cảnh báo và quản lý rủi ro càng khó khăn hơn".
Theo PGS, TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH (Đại học Cần Thơ), hiện tượng sạt lở đất liên tiếp trong thời gian qua, nguyên nhân chính là do mưa bão kéo dài, lượng nước trong lòng đất đã bão hòa khiến đất không còn khả năng chứa nước. Dù tác động chính là mưa bão nhưng vẫn có những tác động từ các hoạt động dân sinh như việc khai thác đất đá ven núi quá nhiều làm gia tăng nguy cơ sạt lở.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, hầu hết các vụ sạt lở trên địa bàn miền Trung, từ Quảng Trị đến Quảng Nam, đều có yếu tố nội sinh rất rõ ràng. Bản đồ dự báo sạt lở cho thấy những vùng này là nơi trước đây từng xảy ra sạt lở và những vùng này đều nằm trên cấu trúc có dải đứt gãy đã được xác định. Mặt khác, những đứt gãy này cùng hoạt động kiến tạo cho thấy đất đá hình thành vùng phong hóa rất lớn, có nơi dày 15 đến 16m, khiến đất đá vỡ vụn, gồm có cát, bùn và đất sét.
Thực tế vụ sạt lở tại xã Trà Leng (Nam Trà My, Quảng Nam), theo Viện Khoa học thủy lợi miền Trung và Tây Nguyên, từ các kết quả nghiên cứu của viện và khảo sát thực địa tại hiện trường ngày 31-10 cho thấy, đây là khu vực có tổ hợp rất nhiều bất lợi về địa hình dốc, phân cắt mạnh nên hình thành khe suối hẹp hình chữ V, có độ dốc lớn; hai vách bên khe suối có cấu tạo nền đất bở rời, nằm trên nền đá gốc nên dễ gây sạt trượt. Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian từ ngày 6 đến 22-10, mưa kéo dài, nhất là khi gặp trận mưa lớn ngày 27 và 28-10 (bão số 9) với gần 180mm thì đất trở nên nhão, lỏng, sạt lở lao nhanh xuống tạo ra trận lũ quét kéo theo đất đá, cây cối chắn ngang lối thoát nước, dẫn tới dòng bùn đá đã chuyển hướng sang bờ phải lao vào khu dân cư, tạo ra thảm họa.
Tương tự, vụ sạt lở ở xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng không xảy ra tại khu vực thủy điện. Trong lịch sử, cũng từng có nhiều vụ sạt lở nghiêm trọng nhưng khu vực đó không hề có công trình hay dự án thủy điện. Trên thực tế, các công trình thủy điện lớn tại Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam đã phát huy vai trò cắt lũ hiệu quả cho vùng hạ du trong mùa mưa bão năm 2020.
 |
|
Nhà máy Thủy điện Đắk Mi 4 điều tiết xả lũ. |
Trao đổi với chúng tôi, bà Đặng Thị Đay và một số người dân ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) cho rằng, nguyên nhân dẫn tới việc liên tục ngập sâu không phải là do thủy điện điều tiết nước mà là hệ quả của việc xây dựng các công trình giao thông, cụ thể ở đây là đường vành đai thành phố nhưng công trình thoát nước đi kèm quá nhỏ, khiến nước từ thủy điện xuống hạ du không thoát nhanh ra sông được, gây ngập nhà người dân.
Chủ động cảnh báo, phòng tránh
Tại buổi làm việc với các bộ, ngành, địa phương về khắc phục hậu quả bão số 9 và công tác tìm kiếm cứu nạn (TKCN) tại tỉnh Quảng Nam vào chiều 1-11, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, cần rút ra các bài học trong công tác phòng, chống mưa lũ, tăng cường nhận thức và sự hiểu biết của chính quyền, của doanh nghiệp và người dân là "chìa khóa" then chốt trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Trong đó, nhận thức của cộng đồng và người dân về trách nhiệm, tác động trước BĐKH là quan trọng nhất. Cùng với đó là cải thiện năng lực dự báo thiên tai và chủ động ứng phó, nhất là công nghệ dự báo trượt đất hiện nay còn yếu. Thủ tướng yêu cầu, các bộ, ngành Trung ương và địa phương cần rút kinh nghiệm sau đợt bão lũ này, trong đó có việc phát triển thủy điện theo quy hoạch và an toàn, hạn chế hoặc không phát triển thêm thủy điện nhỏ; phải tính toán phù hợp đối với những vùng khó khăn về giao thông khi xảy ra thiên tai có thể ứng cứu kịp thời. Cùng với đó là chú trọng trồng rừng với các loại cây có rễ bám sâu, gỗ lớn, góp phần hạn chế thiên tai. Đặc biệt là ứng dụng công nghệ trong phòng, chống thiên tai. Ngoài ứng dụng công nghệ ứng phó với sạt lở đất thì điện thoại thông minh cần được sử dụng để thông tin đến người dân kịp thời hơn, cả về thời tiết, gió bão, lũ lụt...
Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, cần nhìn nhận một cách nghiêm túc và khách quan từ các câu chuyện thiên tai liên quan trực tiếp đến môi trường, từ đó có các chính sách đặc biệt. Cần có nghiên cứu kỹ hơn của các bộ, ngành về tính dị thường, cực đoan của thời tiết để có biện pháp ứng phó. Quá trình vận hành hồ chứa, thủy điện ở các địa phương thời gian qua triển khai rất tốt. Quy trình vận hành đơn hồ và liên hồ phải được điều tiết, các địa phương và chủ đầu tư phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc. Bộ Công Thương kiến nghị các địa phương trong thời gian tới phải rà soát tất cả các công trình thủy điện, các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp để bảo đảm phương án phòng, chống thiên tai. Đồng thời, cần mời chuyên gia khảo sát, đánh giá nơi sinh sống có địa hình nguy hiểm phức tạp để từ đó có phương án di dời hợp lý. Ngoài ra, phải tạm dừng xây dựng các công trình thủy điện trong thời gian bão, lũ để bảo đảm an toàn cho con người.
Giáo sư Trần Thục đề xuất, đối với khu vực có nguy cơ bão lũ cao như ở miền Trung, cần xây dựng hệ thống các hồ chứa trữ nước và cắt lũ đối với các lưu vực sông lớn; xây dựng các công trình nhà ở phòng, chống bão, lũ, công trình kiên cố làm các điểm sơ tán dân... Phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về trượt lở đất, lũ quét; các khu vực có nguy cơ trượt lở đất cao cần triển khai cắm biển cảnh báo. Thực tế cho thấy, nhiều vụ lũ quét, sạt lở đất xảy ra nhưng giảm thiểu được thiệt hại là nhờ vào kinh nghiệm phát hiện trước thiên tai của người dân địa phương. Bên cạnh đó, các địa phương cần tăng cường các biện pháp bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, nhất là ở những khu vực thường xảy ra lũ lụt, nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ lớp phủ thực vật, tăng khả năng giữ nước của lưu vực, hạn chế khả năng tập trung dòng chảy lũ.
Viện Khoa học thủy lợi miền Trung và Tây Nguyên cũng đưa ra một số giải pháp. Trước mắt, ngay trong mùa mưa bão này, các địa phương cần rà soát ngay những khu vực có nguy cơ sạt lở đất cao và theo dõi dự báo mưa để chủ động di dời dân đến nơi an toàn. Đối với người dân, cần phải chủ động quan sát, khi thấy các dấu hiệu bất thường như nứt đất, nứt nhà, cây nghiêng, nước chảy sườn đồi chuyển màu... phải chủ động sơ tán và báo cáo ngay chính quyền địa phương.
Về giải pháp lâu dài, các địa phương cần xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ sạt lở đất tới cấp huyện tỷ lệ 1/5.000 và cấp xã tỷ lệ 1/1.000-1/2.000; xây dựng hệ thống cảnh báo sạt lở đất tại các khu vực dân cư có nguy cơ cao. Bên cạnh đó, chủ động rà soát, quy hoạch, bố trí lại khu dân cư, cơ sở hạ tầng... bảo đảm tính an toàn trước sự tàn phá của thiên tai.
Đề cập vấn đề này, ông Lê Trí Thanh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho rằng, trước tình trạng sạt lở đất đang diễn ra phức tạp ở địa phương, tỉnh sẽ mời một số chuyên gia đến khảo sát, đánh giá toàn bộ các vụ sạt lở này. Qua đó, đưa ra giải pháp tránh sạt lở cho khu vực và chọn vị trí để dựng làng cho người dân có thể làm ăn, sinh sống ổn định lâu dài.
|
Tại phiên họp Quốc hội ngày 6-11 vừa qua, trả lời chất vấn của một số đại biểu Quốc hội về giải pháp ứng phó thiên tai trong thời gian tới, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã nêu nhiều giải pháp, trong đó nhấn mạnh: Các địa phương cần nâng cao năng lực của các lực lượng tham gia PCTT-TKCN, trong đó tăng cường tính chuyên nghiệp từ Trung ương đến cơ sở; đầu tư các phương tiện, thiết bị chuyên dùng phục vụ PCTT-TKCN; nhất là quán triệt nghiêm túc phương châm “4 tại chỗ” trong PCTT-TKCN... |
PHAN TIẾN DŨNG