Bối cảnh tiểu thuyết là không-thời gian rộng dài trên đất nước ta, bắt đầu từ trước năm 1945 với cảnh lam lũ nghèo khó bởi sự đè nén, bóc lột của thực dân Pháp và phong kiến, kéo dài qua hai cuộc chiến tranh đến tận thời đổi mới.

Cố gắng tái hiện nhiều dấu mốc sự kiện lịch sử lớn, tiểu thuyết góp phần lý giải lòng yêu nước nồng nàn và mạch nguồn sức mạnh văn hóa tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, trong từng hình ảnh quê hương, nét tập quán, phong tục... đã làm nên chiến thắng.

 Tiểu thuyết "Viên sỏi lót đường" của nhà văn Bùi Việt Sỹ. Ảnh: MAI NGA

Qua sự miêu tả một gia đình Hà Nội với nhân vật chính Giáp Văn Dũng, có cụ nội Giáp Văn Thông, từng là một “Phó tổng” ở làng; có bố Giáp Văn Sáng, công chức thời Tây, giỏi tiếng Pháp, thạo nghề, lương cao nhưng sớm vào “Hướng đạo sinh” rồi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 ở Hà Nội.

Đó là một gia đình tiêu biểu cho văn hóa gia đình Việt nền nếp, gia giáo, yêu nước. Kháng chiến bùng nổ, cả nhà tản cư lên Chiến khu Việt Bắc. Tác phẩm như muốn sinh động hóa khái niệm “tản cư” và “ngụ cư”, vốn được nói nhiều nhưng chưa cụ thể.

“Tản cư” là dời khỏi làng. Với người Việt, làng như máu thịt nên dời làng là cả một cuộc đấu tranh. Thế nhưng vì nhiệm vụ đuổi giặc, cứu nước mà bao gia đình sẵn lòng phá nhà “tiêu thổ”, dời “cố hương” trong tiếc xót. Và chỉ đi bộ, cả người già, con trẻ, đi đường rừng, đi ngày đêm, trong đói rét...

Mỗi bước đi của họ là mỗi bước tiến đến thắng lợi. Đến nơi ở mới, không phân biệt “chính cư”, “ngụ cư” tất cả đều đồng cam cộng khổ, giúp nhau vượt qua những bỡ ngỡ, gian nan ban đầu. Đây là tiểu thuyết thành công đáng chú ý viết về chủ đề “tản cư”, bổ sung, hoàn thiện thêm về bức tranh toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.

Như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, hình tượng nhân vật Giáp Văn Dũng xâu chuỗi nội dung kết nên hồn cốt tác phẩm. Đang là sinh viên Tổng hợp Văn tình nguyện đi làm công nhân đo đạc, vào chiến trường làm công việc gian khổ, nguy hiểm là khảo sát, mở các tuyến đường mới để quân ta tiến vào đánh Mỹ, giải phóng miền Nam.

Ý nguyện giản dị, khiêm nhường nhưng rất đỗi thiêng liêng của Dũng: “Tự hào làm một viên sỏi lót đường cho sự nghiệp chung của cả dân tộc” được đặt tên cho tiểu thuyết-một ẩn dụ khá gợi. Theo nguyên tắc miêu tả một con người để thấy cả một thời đại. Qua cậu bé Dũng, bạn đọc được trở về với thời ấu thơ trong khung cảnh Hà Nội xưa, có hình bóng cầu Long Biên, cảnh phố Lò Đúc nhiều “Tây”, cùng phong tục làng quê trước năm 1945, cảnh miền rừng hoang sơ, không gian sục sôi những ngày tháng Tám. Với văn xuôi, chi tiết quyết định điều hay dở.

Tiểu thuyết này có những chi tiết “phát sáng” lôi cuốn, hấp dẫn người đọc. Theo bước chân kỹ sư Dũng-gắn liền với hành trình “đi”, không gian tiểu thuyết mở ra nhiều chuyện: Chuyện bị voi đuổi, hổ trộm bắt lợn, chuyện mưa rừng lũ cuốn, chuyện bộ đội bắt cáp treo cho xe vượt qua vực sâu giữa hai hẻm núi... Phát huy vốn sống về hậu phương, về “đường rừng”, thêm vào lối kể hài hước, nhà văn tạo ra cái duyên với giọng nghiêm túc “y như thật” pha lẫn đùa vui. Như câu chuyện hổ đi kiếm ăn, liền “nẫng” luôn đôi dép râu “bốc mùi” nồng nặc của một “phó chỉ huy công binh”. Cả đơn vị một phen nháo nhác truy tìm “kẻ trộm”.

Đằng sau tiếng cười là một hiện thực: Vất vả vì công việc, bộ đội quên cả rửa ráy, tắm táp, lâu ngày đến mức “mùi” thấm cả vào dép cao su... Sau năm 1975 là thời bao cấp khó khăn được lướt qua nhưng đọng lại trong người đọc những câu chữ chỉ có ở thời đáng nhớ ấy. Mạch truyện có những lối rẽ bất ngờ mà hợp lý. Nhân vật Dũng bỏ máy trắc địa chọn nghề viết văn, mở ra một nội dung mới với những triết lý về nghề viết: Phải có mục đích sáng tạo vì nước, vì dân.

Mang tính chất tự truyện, đi theo lối tuyến tính truyền thống, kể lại những điều người kể biết, chứng kiến, như để khẳng định nguyên lý nghệ thuật “sống đã rồi hãy viết”. Phải sâu sắc yêu thương, đã đầy trải nghiệm, giàu có ngôn từ, nhà văn mới có thể viết những trang văn có hồn.