QĐND - Một tác phẩm nghệ thuật luôn phải có một ý nghĩa thẩm mỹ tương ứng. Nhờ có ý nghĩa này, tác phẩm mới như được cất cánh để bay vào bầu trời của cái đẹp tinh khiết, cái nhân văn thánh thiện, cái cao cả hùng tráng… Truyện Kiều sống mãi nhờ nó có cả một hệ thống những ý nghĩa thẩm mỹ tinh tế, sâu sắc. Đó là ý nghĩa về vẻ đẹp phồn thực mà thánh thiện của thân thể con người: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dầy dầy đúc sẵn một tòa thiên nhiên”. Đó là vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng, phóng khoáng: “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Đó là hình ảnh vũ trụ bao la nhưng lại là nơi neo gửi tình người: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”… Và nhất là thơ Hồ Xuân Hương thì cả là một thế giới của những ý nghĩa thẩm mỹ về sự vật, về con người, về quan niệm nhân sinh. Chiếc bánh trôi trong thơ bà không chỉ là chiếc bánh trôi mà có khi còn là vẻ đẹp của một bộ phận cơ thể người con gái, hay là cả về một bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa. Độc đáo là những ý nghĩa này cứ lấp lánh, cứ như tráo nhau, đổi nhau như để trêu ngươi, như để đánh đố, như để chơi trò “ú tim” bạn đọc. “Mười bảy hay là mười tám đây…” là sự vật hay là con người… Bạn đọc cứ tha hồ mà đuổi bắt, tìm hiểu.
Ý nghĩa thẩm mỹ lại gắn liền với tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán… của từng dân tộc. Có ý nghĩa đối với dân tộc này là thẩm mỹ nhưng với dân tộc khác là phản thẩm mỹ và ngược lại. Do vậy, sự bắt chước, nhất là bắt chước trong nghệ thuật là hết sức nguy hiểm, vì nó làm mất dần bản sắc văn hóa. Mà không có bản sắc nghĩa là con số không. Nhìn từ góc độ này thì ý nghĩa thẩm mỹ chính là một cơ sở, một tiêu chí quan trọng, cơ bản để tiếp nhận hay truyền bá nghệ thuật. Ví dụ, văn minh phương Tây công nghiệp có một quan niệm cởi mở với tình dục, người ta đã quen sinh hoạt tình dục theo nếp khoa học. Nhưng nếu chúng ta lại cứ dịch những sách có viết về, nói về tình dục của họ mà không chọn lọc thì sẽ trở nên nguy hiểm với thanh, thiếu niên ta. Vì chúng ta ở phương Đông nông nghiệp mang một hệ giá trị khác, một nếp sống khác, và nhất là một hệ ý nghĩa thẩm mỹ khác với họ.
Ý nghĩa thẩm mỹ còn thay đổi theo ý thức hệ, tức là phụ thuộc vào quan niệm, vào chế độ chính trị của từng thời kỳ. Thế cho nên thời kỳ đầu mới giải phóng (sau 1975), các giáo sư văn học miền Bắc vào giảng bài ở các trường đại học văn khoa miền Nam, khi giảng về Tắt đèn của Ngô Tất Tố, vẫn theo trường thẩm mỹ của nhân dân lao động mà ca ngợi tấm gương chị Dậu thương chồng, yêu con hết mực. Nhưng đối với một ít sinh viên xa lạ với lập trường này thì họ lại tiếp nhận khác, cho rằng chị Dậu còn lạc hậu hơn cả cô Kiều của cụ Nguyễn Du. Cô Kiều bán mình để cứu cha là đáng kính, trong khi chị Dậu bán con để cứu mình là “dã man”. Tại sao chị Dậu không bán thân cho viên tri phủ để cứu cả nhà trong cơn cùng khốn…!? Như vậy số ít sinh viên này chưa hiểu sâu sắc quan niệm về nhân cách "chết trong còn hơn sống đục", quan niệm về nhân phẩm không chịu sống hèn làm tôi tớ nô lệ, không chịu hạ mình ô nhục… của tính cách Việt. Ví dụ như vậy để thấy, nhận thức về ý nghĩa thẩm mỹ là cả một quá trình lâu dài, mà rõ ràng muốn giáo dục ý nghĩa về thẩm mỹ là phải tạo cho được môi trường mang tính thẩm mỹ.
Cội nguồn của tư tưởng thẩm mỹ trong nghệ thuật chính là khát vọng vươn lên khỏi cái hữu hạn để chiếm lĩnh cái vô hạn của con người. Con người ta vốn không bằng lòng với những gì mình có. Nghệ thuật càng phải như vậy, và dĩ nhiên, phải hơn thế. Nghệ thuật là luôn vươn lên chiếm lĩnh những giá trị mới, tạo ra những giá trị mới mà trước đó chưa có. Những giá trị này có vai trò chỉ lối cho bạn đọc tiến bước đi về cái lý tưởng, cái đẹp, cái cao cả. Bác Hồ nói “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” là rất đúng với bản chất “hướng đạo” của nghệ thuật.
Tâm lý học hiện đại đã chứng minh sự khát khao vươn lên cái vô hạn thuộc về bản năng của con người, bởi cam chịu cầm tù trong cái hữu hạn chỉ thuộc bản năng loài vật. Mà một biểu hiện rõ nhất trong nghệ thuật là con người luôn tạo ra những xung đột, những mâu thuẫn, những cảnh đọa đày, những điều phi nhân tính đáng ghê tởm… Đó chính là những vật cản có tính trở ngại để con người vượt qua, vượt qua cái khung đáng ghét của cái hữu hạn để mà vươn lên cái tốt đẹp, cái sáng sủa, để khẳng định giá trị mình. Nhìn ở góc độ này ta thấy, nghệ thuật luôn là sự tạo ra và khắc phục các trở ngại.
Như vậy, tạo ra môi trường mang tính thẩm mỹ cũng chính là sự tạo ra, sự nhận ra và khắc phục các trở ngại trong nhận thức thẩm mỹ của độc giả. Sứ mệnh của người nghệ sỹ chân chính là sáng tạo những bi kịch, những tình huống éo le, những mâu thuẫn ngang trái, những xung đột nhân sinh… không phải là để vùi dập, bôi đen con người, mà đó chỉ là những cái cớ để con người vươn lên cái vô hạn cao cả. Có thể viết, phản ánh, miêu tả về cái xấu, cái ác, cái bản năng…, nhưng đó không phải là mục đích, mà đó chỉ là những cái cớ, cái trở ngại, cái thử thách để qua đó nhân vật thể hiện, khẳng định bản chất nhân văn trong sáng, ấm áp, tinh tế. Đó là những ý nghĩa thẩm mỹ đích thực!
NGUYÊN THANH