Cụm từ xin-cho không biết xuất hiện từ bao giờ trong dân gian, nhưng vào thời bao cấp cụm từ này được sử dụng khá phổ biến với một mật độ đậm đặc không chỉ ngoài xã hội mà còn luôn vang lên ấn tượng và đầy hào phóng ở mọi nơi cơ quan công sở nhà nước.

Xin-cho, bản thân từ này đã xác định rõ mối quan hệ người cho-ban ơn; người nhận-chịu ơn. Mối quan hệ này trong dân gian không có gì băn khoăn lắm, vì nó thường xuất hiện bình đẳng thông qua tình nghĩa gia đình, họ hàng, làng xóm… nên nó khá vô tư thuần khiết, nhưng nếu ở các cơ quan nhà nước mà nhất là các doanh nghiệp làm kinh tế thì vô cùng tai hại. Vì động cơ của nó không xuất phát từ nghĩa vụ quyền lợi công chức mà từ cảm tính chủ quan cá nhân, nên nó là nguyên nhân dẫn đến sự ỉ lại dựa dẫm, thủ tiêu tính cạnh tranh phát triển và từ đây cũng là nguồn gốc phát sinh tính xấu, tiêu cực, tham ô tham nhũng sinh sôi nảy nở. Nền kinh tế thị trường ra đời là một cuộc cách mạng thực sự nhằm xóa bỏ chế độ bao cấp quan liêu, giải phóng mọi tiềm năng để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất nước trong đó có việc xóa bỏ triệt để cơ chế xin-cho; nhưng cho đến nay, công cuộc đổi mới đã đi qua hơn hai mươi năm, cơ chế xin-cho tuy không lộ liễu công khai nhưng vẫn hiển nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức tinh vi, biến tướng muôn hình vạn trạng. Chính vì tình trạng này mà tiêu cực không giảm, hiệu quả công việc không cao, thói hư tật xấu nảy sinh, sự phân hóa giàu-nghèo gia tăng, lòng người không ổn… đã trở thành lực cản cho một đất nước đang tìm mọi cách hướng tới xây dựng một xã hội lành mạnh văn minh.

Xét về bản chất, đã là cơ quan nhà nước thì không có chuyện xin-cho, ban ơn và chịu ơn mà nó chỉ có nhiệm vụ duy nhất là thực thi theo cơ chế, luật pháp. Người thuộc cơ quan nhà nước là do dân cử, họ thay mặt nhân dân quản lý điều hành mọi hoạt động kinh tế-xã hội. Họ được nhân dân trả lương (bằng tiền thuế). Họ có nghĩa vụ bằng bất cứ giá nào phải phục vụ nhân dân một cách xuất sắc nhất. Bác Hồ gọi "đầy tớ của nhân dân" là vậy. Thế nhưng trên thực tế, một hiện tượng diễn ra khá phổ biến và ngược đời có nguồn cội từ việc “xin” là từ người dân thường đến các đơn vị làm kinh tế, dường như ở mọi chỗ mọi nơi, khi làm việc gì có liên quan đến chính quyền là "xin". Người dân bình thường thì ra phường xin làm công chứng, xin làm chứng minh thư, xin làm sổ đỏ nhà đất, xin lĩnh lương hưu... Doanh nghiệp thì xin dự án, xin đấu thầu, xin nhận công trình... các tổ chức đoàn thể thì xin kinh phí làm nhà bảo tàng, xin tiền tổ chức hội nghị, nhà thơ nhà văn thì xin tài trợ sáng tác, xin kinh phí mở trại... nghĩa là ở đâu cũng thấy "xin", cứ đụng vào tiền, vào vật chất cần làm đơn từ cho việc gì là lại xin. Người dân xin trầy trật, chạy lên chạy xuống để có giấy tờ này nọ cũng là mong được sống trong yên ổn, mọi chuyện hợp pháp minh bạch chứ chẳng lợi lộc gì; nhưng các cơ quan kinh tế, các đoàn thể xin dự án, xin tiền đầu tư thì được tiền nhiều, không phải một vài trăm triệu mà là hàng chục, trăm, tỷ đồng. Mà thói đời đã xin thì phải mang ơn, phải trả, quà cáp biếu xén gọi là "lại quả"; mới đầu chỉ là cảm ơn, sau vì sống trong cơ chế thị trường nên mọi chuyện phải sòng phẳng theo thị trường, nghĩa là "Tôi cho anh cái này anh phải bù lại cái kia, tiền cấp cho bằng này anh phải "lại quả" bằng ấy, nhiều ít cứ tính theo phần trăm". Dân gian lưu truyền "đã làm ăn là phải có luật" phải "đi đêm" là ám chỉ một loại luật phi văn bản này. Thành ra những người thuộc cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ này lẽ ra phải phục vụ nhân dân thì họ lại nghiễm nhiên là ông chủ ban phát quyền lợi, ban ơn cho người khác. Và người nhận cho dù việc công hay việc riêng, công minh chính đại hay vụng trộm đi đêm nhất nhất đều phải trả ơn. Ai nhận mà bướng bỉnh không trả thì lần sau chỉ có cách "độn thổ" mà đi xin cũng chẳng "ma" nào bố thí.

Tình trạng này tồn tại, diễn ra hàng ngày, hiển nhiên trước mắt người đời nhưng bảo tìm bằng chứng cụ thể thì cho dù là "bậc thánh" cũng bó tay, nên các cơ quan luật pháp cũng không dễ dàng ra tay dọn dẹp. Thế mới biết cái cụm từ "xin-cho", mới nghe qua tưởng chẳng có chuyện gì, là lẽ đương nhiên, nhưng xét sâu vào bản chất, và nhất là ở vào thời điểm hiện nay trong các đơn vị làm kinh tế và đơn vị có liên quan tới kinh tế thì quả vô vàn phức tạp. Điều đáng lo ngại là cái sự phức tạp này có thể làm đảo lộn giá trị, gây bất công rối ren phiền nhiễu, cản trở mọi cố gắng xây dựng một xã hội lành mạnh văn minh. Vì thế, đã đến lúc từ “xin” cần phải được loại bỏ ra tất cả các văn bản hành chính nghiêm túc. Nếu không nó sẽ tiếp tục bị hiểu sai lệch, tạo ra những thói xấu rất phiền.

Mã Pí Lèng