 |
|
TP Vinh. Ảnh: Internet |
Thời Lý, châu Nghệ An là vùng đất vừa xa kinh đô, giữ vị trí tiền đồn phía nam đất nước. Nơi đây thường xuyên bị quân Chăm-pa, Chân Lạp kéo đến xâm lấn và cướp bóc. Sử cũ cho biết, ngay trong các triều vua đầu của nhà Lý, chiến tranh giữa Đại Việt và Chăm-pa đã xảy ra vào các năm 1020, 1044, 1069. Bên cạnh đó, các thế lực cát cứ địa phương nhiều lần nổi lên chống lại triều đình phong kiến trung ương khiến nhà vua phải điều quân đánh dẹp. Năm 1012, vua Lý Thái Tổ đi đánh Diễn Châu, năm 1026, nhà vua lại sai Khai Thiên Vương đi đánh giặc ở Diễn Châu, năm 1031, vua Lý Thái Tông đi dẹp loạn ở châu Hoan... Tình hình ấy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân, đe dọa sự thống nhất, ổn định của đất nước. Vì vậy, để tăng cường quyền lực của Nhà nước trung ương tập quyền, các vua Lý rất chú trọng xây dựng, phát triển tiềm lực kinh tế, thực lực quốc phòng ở vùng đất có vị trí chiến lược tiền đồn này. Đảm đương tốt được việc này phải là những tướng giỏi, văn võ song toàn, có tài trị nhậm và Lý Nhật Quang là một phương án lựa chọn.
Lý Nhật Quang vốn tên là Hoảng, con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Năm 1039, ông được triều đình cử vào Nghệ An thu thuế. Nhờ làm tốt mọi việc, năm 1041, ông được giữ lại làm tri Châu Nghệ An. Nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít giữa “thực túc’ với “binh cường”, tri châu Lý Nhật Quang trước tiên chú ý đến việc sản xuất, phát triển nông nghiệp, đưa Nghệ An phát triển kịp với các khu vực khác của đất nước. Hàng loạt các biện pháp khuyến nông được thực hiện, như bảo vệ nguồn nhân lực, bảo vệ sức kéo, coi trọng việc đắp đê, nạo vét sông ngòi để đề phòng lụt, hạn. Nhờ đó sản xuất nông nghiệp ở Nghệ An ngày một phát triển, đời sống nhân dân tương đối ổn định, thóc gạo dự trữ cho quốc gia ngày một dồi dào. Đi đôi với việc khuyến khích sản xuất nông nghiệp, tri châu cho chiêu mộ dân lưu vong khẩn hoang, mở mang diện tích trồng trọt, lập thêm làng mới... Ngoài ra, ông còn cho khai phá những vùng đất hoang ở phía nam. Nhờ đó, nhiều khu vực cư trú và canh tác mới xuất hiện, trong đó có nhiều xóm làng trở nên đông đúc như Ngọc Sơn (Đức Thuận, Đức Thọ), Trảo Nha (Đại Lộc, Can Lộc), Phật Khê (Đà Sơn, Đô Lương). Đặc biệt, vùng Tả Ao (Xuân Giang, Nghi Xuân) là trị sở của châu hồi ấy trở thành khu vực đô hội, buôn bán phát triển.
Đi đôi với việc xây dựng, phát triển kinh tế, Lý Nhật Quang đặc biệt chú trọng đến việc củng cố, xây dựng quốc phòng địa phương nơi ông trị nhậm. Ông thường xuyên đi tuần những nơi biên giới, xem xét, đo đạc rồi tùy nơi hiểm yếu mà đặt đồn binh. Để đảm bảo có lực lượng quân sự tại chỗ mạnh, ông cho tiến hành kê khai nhân khẩu, thực hiện việc tuyển chọn quân lính. Theo Việt điện u linh, bấy giờ Nghệ An có tổng số 46.450 hộ và tổng số đinh là 54.364 khẩu. Nhằm mục đích tập trung nhân lực cho sản xuất mà không ảnh hưởng đến việc xây dựng lực lượng quân sự đủ sức trấn áp các thế lực chống đối, Lý Nhật Quang thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, chia phiên cho quân lính thay nhau về làm ruộng. Bên cạnh lực lượng quân đội thường trực, ông khuyến khích tổ chức dân binh (còn gọi Hương binh), một tổ chức vũ trang nơi làng xã. Đây là lực lượng vừa sản xuất vừa bảo vệ làng xóm khi thời bình và là lực lượng đánh giặc tại chỗ khi chiến tranh xảy ra.
Bằng những nỗ lực phi thường của mình, Lý Nhật Quang có công rất lớn trong việc xây dựng kho dự trữ sức người, sức của ở nơi tiền đồn phía nam đất nước, giúp vua Lý Thái Tông giành chiến thắng trong cuộc đánh dẹp Chăm-pa năm 1044, giữ yên bờ cõi phía nam của đất nước trong một thời gian dài.
Thu Trang