QĐND Online - Huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa là huyện có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Thành nhà Hồ, Phủ Trịnh, Nghè Vẹt, Đa Bút, Động Hồ Công, Động Kim Sơn.... Trong đó nổi tiếng nhất là Thành nhà Hồ, thường được gọi là Tây Đô, ở xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long thuộc huyện.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư: "Tháng giêng năm 1397, Hồ Quý Ly sai Thượng thư Lại bộ kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tĩnh đi xem xét đo đạc dọc động An Tôn, phủ Thanh Hoa chuẩn bị cho kế hoạch thiên đô của mình". Cũng theo Đại Việt sử ký, qua lời của một Khu mật chủ sự Thị sở Nguyễn Như Thuyết thì: " An Tôn là đất chật hẹp, hẻo lánh, cuối nước đầu non nên với loạn mà không nên với trị". Trên thực tế, An Tôn là một địa danh gồm ba làng Tây Giai, Xuân Giai (Vĩnh Tiến), Đông Môn (Vĩnh Long) và còn cả ba làng Yên Tôn Thượng, Yên Tôn Hạ và Phù Lưu thuộc xã Vĩnh Ninh.

Nhìn chung, thành Tây Đô được xây dựng trên một mặt bằng gần như là một thung lũng của cả một hệ thống núi đá vôi bao bọc. Đó là các núi Thổ Trịnh, Hắc Khuyển, Ngưu Ngọc, Xuân Đài... Thành Tây Đô còn được án ngữ bởi hai con sông: sông Mã (Lỗi Giang) và sông Bưởi (sông Bái).

Thành Tây Đô được xây dựng cơ bản xong trong vòng 3 tháng, không kể thời gian Đỗ Tĩnh nhận lệnh đi tìm đất, khảo sát, lên bản đồ quy hoạch vào tháng giêng năm 1397. Khi đó, Hồ Quý Ly “quyền nghiêng thiên hạ", với chức danh Tư Không, một chức quan to trong hàng Tam tư: Tư Đồ, Tư Mã, Tư Không, được quyền “chọn các quan viên biết luyện tập võ nghệ, thông hiểu thao lược thì không cứ là người tôn thất đều cho làm tướng coi quân”; sau đó làm Bình Chương Sự lại được vua Trần Nghệ Tông ủy thác cho toàn quyền hành động: "Bình Chương là họ thân thích của nhà vua, mọi việc đều trao cho khanh (chỉ Hồ Quý Ly). Nay thế nước suy yếu, trẫm thì già nua. Sau khi trẫm chết, quan gia nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém, ngu muội thì khanh cứ nhận lấy làm vua”. Cuối năm 1397, ông ta đã buộc vua Trần Thuận Tông dời đô từ Thăng Long về Tây Đô (Thanh Hóa), sau đó lại ép Thuận Tông nhường ngôi cho Hoàng Thái tử An. An lên ngôi vua ở cung Bảo Thanh (Tây Đô) năm 1398 và đổi niên hiệu là Kiến Tân năm thứ 1. Đây chính là thời điểm thành nhà Hồ chính thức mang tên Tây Đô. Canh Thìn năm thứ 3 (1400), Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, xưng là Thánh Nguyên năm thứ 1 và thành Tây Đô trở thành Quốc đô của nước Đại Ngu (thay cho Đại Việt trước đó).

Quốc đô của Đại Ngu có mặt bằng gần như vuông (chiều rộng 870m và chiều dài là 883m) xung quanh có thành cao, hào sâu. Tường thành cao trung bình 5m, dày 3m, mặt ngoài được xây bằng đá. Mỗi tảng đá xây trung bình dài 1,5m, cao từ 0,8 đến 1m. Thành có 4 cổng: Đông, Tây, Nam, Bắc ứng với 4 hướng ở giữa tường thành. Cổng thành xây kiểu vòm cuốn bằng đá khối rất lớn, kỹ thuật kiểu múi bưởi. Riêng cổng thành phía nam có 3 cửa: cửa giữa rộng 5,8m, cao 5,75m; mỗi cửa bên rộng 5,45m, cao 5,35m. Hiện nay, trong thành hiện có nhiều dấu vết của một hoàng cung bề thế, bao gồm điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ, cung Phủ Cực và Đông, Tây Thái Miếu... Và còn nữa, những Hồ Dục Tượng, Ao Vôi, Ao Gạo, Ao Vàng, Góc Ngục, Đội Đèn...

Dẫu chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi nhưng dẫu sao Tây Đô vẫn kinh đô của nước ta dưới triều đại Hồ Quý Ly. Nhìn từ góc độ quân sự, Tây Đô là một công trình quân sự hơn là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa. Từ việc dời đô từ Thăng Long về Thanh Hóa, biến Tây Đô thành Quốc Đô, hoài bão của nhà cải cách Hồ Quý Ly là nhằm, trước hết cải cách về chính trị, sau đấy là quân sự... Đây cũng là một sai lầm, bởi Tây Đô không phải là trung tâm đất nước nên không đảm đương được vai trò một kinh đô, mở ra sự phát triển về kinh tế... Muốn cách tân đất nước, không thể không cải cách kinh tế trước, sau đó mới đến các mặt khác. Bài học sớm đi đến thất bại của Hồ Quý Ly còn mang giá trị thời sự ./.

TRANG THU