QĐND - Cả tuần nay anh biến đâu mà em gọi không được?

- Anh xuống buôn em à. Có ba nhà dân bị đá lở đè.

- Hèn chi! Vậy có ai bị sao không anh?

- Chỉ mấy người bị thương phải đưa đi bệnh viện thôi.

- Rồi anh phải ở lại bệnh viện với người ta à? Chắc có cô gái xinh xắn nào chứ gì? Con gái vùng cao là trắng trẻo lắm!

- Ờ, cũng có một phụ nữ. Bà cụ ấy bảy chục tuổi. Và thêm 2 đứa trẻ con nữa. Khi nghe tin đá đè nhà dân, đội của anh được phân công đi ngay. Điện thoại hết pin mà ở đó không có điện.

- Vậy sao đến bệnh viện không tranh thủ sạc đi?

- Anh phân công thằng Hùng cùng hai người trong buôn đưa đi chứ anh phải ở lại giúp họ dựng lại nhà. Tưởng em biết chuyện này. Ti vi có đưa tin mà.

- Em không để ý. Mà ai biết cái làng ấy gần đồn của anh.

- Không gần lắm. Cách cả mấy ngọn núi và hai con suối. Nhưng ở đó ngoài bọn anh thì có ai cứu dân nữa?

- Em cứ tưởng có cô gái vùng cao nào bắt mất anh rồi. Vậy là anh không bị sứt mẻ gì phải không? He he!

Tôi hay đành hanh với anh vậy đó. Mấy ngày nay chuẩn bị giáo án để kiểm tra nên tôi không coi thời sự. Dù điện thoại hay mất sóng nhưng nói chung là chúng tôi vẫn liên lạc tương đối thường xuyên. Có thời gian thì chúng tôi nói về công việc và nhiều chuyện khác. Còn bận thì chỉ cần biết bình yên là được rồi. Chị Hồng nói tôi phải cám ơn mấy cái nhà mạng điện thoại vì gói khuyến mãi chứ như ngày xưa thì tôi hết lương mất thôi.

Mẹ nói tôi với anh là số phận. Nếu không vậy sao hai người lại có cuộc gặp hy hữu như thế.

Lần đó cách nay khoảng dăm năm. Nghe tin có bão vào miền Trung, tôi vội nhảy xe đò về quê. Lúc đó tôi đang học năm cuối Cao đẳng Sư phạm. Căn nhà cấp 4 đã cũ của mẹ con tôi ở trong một làng chài ven biển. Mỗi lần bão về là đáng lo lắm. Ngày xưa còn ba thì còn có người chống đỡ. Nhưng ba tôi đã không về sau một lần đi biển gặp bão. Với một quán tạp hóa nhỏ, mẹ nuôi hai chị em tôi lớn lên.

Phải mất cả một ngày sau, tôi mới về đến làng mình. Một cảnh đổ nát hoang tàn hiện ra trước mắt tôi. Làng chài của tôi trước xanh um bởi dừa và chuối giờ tan hoang. Chẳng thấy bóng mẹ và cháu đâu, tôi khóc òa. Nhưng rồi có người đi tới nói là người làng đang trú tại trường tiểu học. Tôi lao ngay tới trường. Mẹ con tôi gặp nhau vừa cười vừa khóc. Bà con làng tôi ai cũng lo lắng và buồn bã. Quanh năm vất vả làm lụng nhưng chỉ một cái nhíu mày giận dữ của ông trời là trắng tay.

May mắn là cứu trợ của nhà nước và của bà con mọi miền đã đến kịp thời. Một đơn vị bộ đội được cử đến giúp dân làng tôi dựng lại nhà cửa. Tôi nán lại chưa lên trường vội để đỡ đần cho mẹ. Anh và anh Thắng được phân công giúp nhà tôi. Mẹ tôi đã gọi được một ông thợ quen ở xã bên cạnh tới lo phần “kỹ thuật”. Có hai anh và tôi phụ nên cái nhà nhỏ của mẹ con tôi đã xong về cơ bản trong vòng một tuần. Sau này, mấy ngày gian khổ đó mẹ tôi cứ nhắc nhớ hoài bởi cả thợ và chủ cùng hai anh bộ đội lăn lưng ra làm trong điều kiện ăn ở tạm bợ. Mẹ tôi bắc nồi nấu cơm trong cái chái tôn lợp tạm. Vậy nhưng những bữa ăn đơn giản ấy vẫn được mọi người ăn uống ngon lành, còn vui vẻ đùa giỡn nữa. Anh Thắng, người Bắc to cao và đã có vợ thì suốt ngày trêu chọc gán ghép tôi với anh: “Thằng Tâm làm ăn cho cẩn thận nhé. Để cô Hà chê là không có cơ hội trở lại đây nữa đâu!”. Hay, “Xong nhiệm vụ này để tao xin thủ trưởng cho mày nghỉ phép đưa cô Hà đến trường”. Anh Tâm nhỏ con và trắng trẻo hơn anh Thắng. Sau này chắc anh lây tôi nên dạn dĩ hơn và còn biết đùa chứ hồi đó anh lành như con gái. Tôi cảm tình nên giữ mối liên lạc với anh chứ chẳng nghĩ rồi đây sẽ có duyên nợ.

Chạy vạy khắp nơi 2 năm sau khi ra trường, tôi mới xin được một chân dạy hợp đồng tại ngôi trường tiểu học này. Bây giờ sinh viên sư phạm ra trường thất nghiệp nhiều lắm nên tôi đành chấp nhận hiện tại. Dạy hợp đồng thu nhập thấp và thiệt thòi nhiều quyền lợi. Nhưng tôi cũng tương đối an tâm là thầy Tùng, hiệu trưởng của trường rất quý tôi và hứa sẽ xem xét khi xin thêm được chỉ tiêu. Tuy nhiên tôi biết là điều này rất khó. Tôi đã dạy hợp đồng năm thứ 3 mà cơ hội vẫn chưa đến.

Tôi biết được lý do tại sao thầy Tùng lại rất cảm tình với tôi. Vợ chồng thầy ly hôn đã lâu, đứa con vợ nuôi nên thầy chỉ còn lại một mình. Lâu nay thi thoảng thầy vẫn tặng tôi vài thứ quà nho nhỏ. Chị Hồng có lần đùa tôi là mày chỉ cần yêu thầy Tùng là có tất cả: Nhà cửa, biên chế... Tôi lườm chị rằng thầy Tùng hơn em 14 tuổi, chị nghĩ em ế hay sao mà yêu ông già vậy. Chị cười cầu hòa, mày xinh, chẳng ế đâu nhưng phải thực tế một chút. Chẳng lẽ cưới anh bộ đội để rồi ông ngâu bà ngâu suốt đời à. Mà đàn bà chóng già lắm, giờ nhìn lệch vậy chứ mươi năm nữa là thấy thường, mà thầy Tùng cũng đẹp trai... Tôi vùng vằng, yêu thì biết yêu đã, tính chi cho dài...

Thầy Tùng ngỏ lời yêu tôi trong một lần trường tổ chức cho khối lớp 5 đi tham quan mấy di tích lịch sử của địa phương. Trong lúc học trò xúm quanh nhân viên hướng dẫn nghe giới thiệu về di tích thì thầy níu tôi dừng lại dưới ghế đá rợp bóng cây ở bậc thềm phía trước. Thầy nắm tay tôi:

- Chiều nay em tới nhà anh chơi nhé!

Tôi ngại ngần:

- Chiều em có chút việc bận, để lúc khác thầy ạ!

Thầy tỏ vẻ không bằng lòng:

- Sao em cứ gọi thầy nghe khách sáo vậy? Em không biết là anh quan tâm nhiều đến em à. Em không nghĩ là anh yêu em sao?

Tôi chẳng biết nói sao. Nhưng mục đích vào biên chế cũng khiến tôi khôn ngoan không nói lời khước từ luôn lúc đó.

Việc tặng quà cáp của thầy Tùng dày hơn. Đã có lần tôi phải từ chối những món không thể gọi là quà thông thường được. Và phải khất lần việc đến nhà hoặc đi ăn hay uống cà phê. Rồi tôi nhận được lời nhắn có tính chất thăm dò rằng năm nay số học sinh của trường có giảm nên sau kỳ thi công chức đợt tới nếu không vào được biên chế thì trường cũng phải cắt không còn tiêu chuẩn nhận hợp đồng nữa. Thi công chức thì tôi chẳng sợ, vì tôi đã từng thi rồi. Nhưng chị Hồng nói quyết định chính là hiệu trưởng.  Rồi chị ghé tai tôi nói nhỏ, được ưu ái thì tranh thủ thời cơ đi. Cái gì cũng có giá của nó. Năm nọ chị phải mất một khoản tiền không nhỏ để đạt mục đích đấy. Tôi hỏi thẳng có phải cho thầy Tùng không. Chị cười, chứ mày nghĩ ai vào đây, thầy Tùng lên hiệu trưởng 5 năm rồi mà. Tự nhiên tôi chán nản quá chừng. Thật không ngờ...

Sau mấy tháng, hệ quả xấu đã xảy ra. Tôi nhận được giấy cho thôi hợp đồng. Những ngày nằm dài chán chường tại nhà đã khiến tôi không giấu được giọng than thở với anh. Anh an ủi tôi rồi ướm lời có dám làm cô giáo vùng cao không. Lớp học tình thương mà đồn biên phòng anh phụ trách chỉ dạy được cho trẻ con biết đọc biết viết và làm toán cộng trừ nhân chia thôi. Còn muốn học đầy đủ phải tới trường tiểu học của xã. Nhưng trường này đang thiếu giáo viên nhiều lắm. Nếu em đủ nghị lực? Nếu em thật lòng yêu anh? Tôi nói với anh rằng để em suy nghĩ thêm và hỏi ý kiến mẹ.

Tôi sẽ là một cô giáo vùng cao ở Tây Nguyên ư? Sẽ xa mẹ xa quê để sống gần với buôn làng người M’nông ư? Sẽ làm đám cưới với anh để gắn bó với vùng đất biên cương nơi đồn anh đóng quân à? Quả thực là chưa bao giờ tôi hình dung được điều này. Nhưng rồi tôi nghĩ về anh nhiều hơn. Nhà nghèo, tốt nghiệp phổ thông anh đã không thi đại học để xung phong nhập ngũ. Sau cuộc gặp ở thời điểm xui rủi của làng tôi năm đó, năm sau là anh thi đậu Học viện Biên phòng. Ra trường, anh được điều về đồn biên phòng này. Tôi hình dung mọi điều về anh qua những cuộc điện thoại. Yêu thì có thể mạo hiểm nhưng mọi quyết định đều phải bắt đầu bằng lòng tin. Và tôi nghĩ lòng tin về anh trong tôi đủ lớn để tôi dám đương đầu với thử thách. Tự nhiên, tôi hát to lên mấy câu mà có lần anh hát cho tôi nghe trong điện thoại: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết dành phần ai...”. Mẹ tôi vừa từ hàng tạp hóa trở vào nhà, nghe tôi hát bà ngạc nhiên: “Con có tin vui mới à?”. Phải mẹ ơi, tại sao không thể coi đây là một tin vui.

Truyện ngắn của HỘI AN