QĐND - Chúng tôi quan niệm văn học dân gian như những viên ngọc long lanh phản chiếu tâm hồn, tính cách một dân tộc. Do vậy con đường ngắn nhất để tìm hiểu văn hóa Việt là thông qua những áng văn chương đã có từ ngàn đời.
Một trong những đức tính tốt đẹp góp phần hun đúc lòng yêu nước mạnh mẽ, tinh thần nhân văn đậm đà ở người Việt là: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Con người với con người yêu thương nhau như trong một gia đình: “Chị ngã em nâng”, “Tay đứt ruột xót”. Có lẽ truyện Sự tích trăm trứng hay truyện Quả bầu mẹ là sự minh họa sinh động, tiêu biểu cho tính cộng đồng rất cao của các tộc người trên mảnh đất Việt. Nó nhắc nhở mọi người: Dù là ai nhưng hễ là người Việt Nam thì đều là anh em một nhà. Có lẽ hiếm thấy một đất nước nào trên thế giới này có ngày Giỗ Tổ như ở Việt Nam: “Dù ai đi ngược về xuôi/Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba”. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ dễ thấy người Việt quan niệm tất cả mọi người “Con Rồng cháu Tiên” đều chung một mái nhà, xưng hô với nhau theo trật tự tầng bậc: Ông, bà, bác, cha, mẹ, cô, chú, anh, em, con, cháu… Ngôn ngữ đã quy ước như vậy nên dù có ai “đi chín phương trời” gặp nhau nói tiếng Việt vẫn trở về với mái nhà Việt qua cách xưng hô giàu tình cảm gia đình.
 |
| Du khách thích thú chiêm ngưỡng kỹ thuật làm nón lá Huế. Ảnh: Văn An. |
Như là một hệ quả của sự đoàn kết mà người Việt có lòng yêu nước sâu sắc, câu chuyện chú bé làng Gióng là sự minh họa rõ nhất điều này. Khi giặc đến xâm lăng thì mọi người dân, kể cả là những đứa trẻ thơ cũng sẵn sàng cầm lấy vũ khí để đuổi giặc. Họ coi việc bảo vệ sự tồn vong của đất nước này một cách tự nhiên nhất, không vụ lợi, không so đo toan tính điều gì cho cá nhân mình. Vì thế mà đuổi giặc xong, tức là hoàn thành nhiệm vụ giữ nước, chàng Gióng bay về trời.
Cho đến nay, phẩm chất cần cù, yêu lao động của người Việt đã nổi tiếng thế giới. Sự cần cù ấy đã có từ xa xưa: “Cày đồng đang buổi ban trưa/Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày/Ai ơi bưng bát cơm đầy/Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Trong thế giới truyện cổ thì các vị vua cũng vẫn là những người lao động. Phong tục “tịch điền” (Vua hoặc các bô lão cày ruộng) còn lại cho đến ngày nay có lẽ có từ trước đó nhưng rõ nhất là thời các vua Hùng. Trong truyện Tấm Cám thì cô Tấm không chỉ miệt mài lao động từ tấm bé mà khi đã trở thành hoàng hậu vẫn là người lao động (vẫn giặt áo, phơi áo cho chồng; thậm chí vẫn trèo cau hái quả giỗ bố một cách hồn nhiên…). Tinh thần cần cù, kiên trì, dẻo dai, bền bỉ và ý thức vượt khó chính là một trong những chủ đề tư tưởng của truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh. Chàng Thủy Tinh và những loài thủy quái (biểu trưng cho những khó khăn trở ngại và sự tàn phá của thiên nhiên) dù có phép dâng nước cao đến đâu cũng không thắng được Sơn Tinh cùng những con người lao động khỏe mạnh, năng động. Họ dâng cao núi, họ lăn đá, phóng gỗ… đuổi kẻ thù. Cuối cùng Sơn Tinh đã thắng hay chính những cư dân ở mảnh đất Việt đã thách thức và thắng mọi thiên tai địch họa. Sau này Sơn Tinh được phong Thánh (là một trong Tứ bất tử) hay chính người Việt đã phong thánh cho lòng cần cù, quyết tâm vượt khó của nhân dân mình.
Làm ruộng là một nghề khó nhọc luôn phải cần nhiều nhân lực nên đã tạo ra ở người Việt một đức tính rất quý con người. Họ coi con người là trên hết, đẹp nhất, quý nhất: “Người ta là hoa đất”; “Có vàng vàng chẳng hay phô/Có con con nói trầm trồ mẹ nghe”. Nên thật dễ hiểu người Việt rất quý khách, hiếu khách: “Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi”. Rất quan tâm đến người khác, câu chào của người Việt thực ra là một câu hỏi về tình hình (sức khỏe, ăn uống, làm việc…) của người khác.
Quý người, trọng người ở tính cách Việt đã nâng lên tầm văn hóa, do vậy người ta mong muốn con người vươn lên hướng tới sự sang trọng, vương giả và quý phái. Biểu hiện của điều này là người Việt rất trọng chữ, quý người có chữ (có học): “Chẳng tham ruộng cả ao liền/ Chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ”. Do vậy người ta rất chịu học, vượt khó để học. Câu chuyện anh học trò nghèo bắt đom đóm để có ánh sáng mà học là sự ca ngợi những người có chữ nghĩa, có văn hóa. Người Việt khao khát được thưởng thức và chinh phục đỉnh cao nghệ thuật. Cây đàn của chàng Thạch Sanh chính là một biểu tượng cho phẩm tính nghệ sĩ Việt. Người ta mong ước có một thứ nghệ thuật nhân sinh (cây đàn) có thể nói thay được lòng người (minh oan), có thể chinh phục, cải hoá được người ác (tiếng đàn ru ngủ quân xâm lược). Người Việt ham thích nghệ thuật, nhưng phải là thứ nghệ thuật dễ dàng trao gửi tình cảm. Và như chúng ta đều thấy thơ ca là thể loại thích ứng ứng nhất, dễ hiểu người Việt thích làm thơ, thưởng thức thơ.
Quý người, thương người nên người Việt hay sống vì người khác và dễ tha thứ. Chàng Thạch Sanh sẵn sàng gánh vác việc lớn cho Lý Thông. Người em (trong truyện Cây khế) sẵn sàng nhường nhịn gia tài mà bố mẹ để lại cho người anh và cũng chẳng hề giấu giếm chuyện được chim đại bàng đưa đi lấy vàng… Vì coi nhau như người trong một nhà nên người Việt đề cao chữ “nhịn”, “Một sự nhịn bằng chín sự lành”.
Những điều vừa viện dẫn trên đủ cho mỗi chúng ta thêm yêu văn hoá Việt, yêu đất Việt, người Việt biết chừng nào!
NGUYÊN THANH