Sáng ba mươi, đang vui với tám quân bài tam cúc mới được chia đỏ rực bộ ba “tướng sĩ tượng”, thì bố tôi đưa cho gói quà tết bọc giấy điều:
- Lớn rồi, Tết này, con đi tết thầy một mình! Chẳng có gì, cặp bánh chưng với cân đường gọi là.
Tôi gật đầu nhưng bụng rất run. Tôi vốn là đứa trẻ nhút nhát. Chưa dám đến nhà ai một mình. Kể chi nhà thầy giáo có tiếng nghiêm khắc như thầy tôi.
Tôi đi thật chậm nhưng rồi cũng đến cổng nhà thầy. Đã mấy lần giơ bàn tay nhỏ bé định đập đập lên đó nhưng cả mấy lần tôi đều rụt tay lại. Sợ quá. Ước gì có ai đó ra mở cổng. Tôi sẽ dúi vào tay cái khối nặng nề này rồi ù té chạy đi. Nhưng chờ mãi chả thấy. Chỉ thấy còn cách là quay về. Rồi muốn ra sao thì ra!
Đường về, tôi đếm từng bước một. Đã đến quán nước bà Ngải, một bà lão sống mỗi một mình từ hồi nào. A! Phải rồi! Tôi rẽ vào quán, đặt vội lên bàn tay nhăn nheo run run của bà gói quà tết:
- Thầy bu cháu...
Bà lặng người đi. Cái miệng móm mấp máy:
- Đa tạ ông bà...
Xong việc, tôi về đến nhà, mặc dù tự trấn an: “Thầy giáo thì thiếu gì quà tết” nhưng vẫn cứ thấy bứt rứt. Tâm trạng của người vừa phạm tội, vừa không. Bố tôi không nhận ra điều ấy nên đã reo lên khi thấy tôi về:
- Thằng này giỏi! Tết thầy một mình!
Bố càng khen tôi lại càng nơm nớp chờ đợi...
Ngày mùng một, điều ấy không đến, may sao!
Ngày mùng hai, lạy trời, cũng thế. Nhưng...
Vừa sáng bảnh mắt, bà cụ Ngải đã xồng xộc bước vào nhà, miệng rối rít:
- Năm mới kính chúc ông bà làm ăn phát đạt bằng năm bằng mười năm ngoái...
Tôi chạy tọt vào buồng. Tim thắt lại. Bà ơi, bà đừng nói cái chuyện hôm trước bà nhé.
- Sau nữa xin cảm ơn ông bà có lòng nghĩ tới kẻ nghèo hèn như tôi. Cặp bánh ông bà cho, nó không phải bằng gạo bằng thịt đâu, bằng vàng đấy ạ!
Tôi tái người, chỉ biết ngồi sụp xuống chờ ăn đòn. Quả không sai, bố tôi nghiêm mặt nhìn tôi sau lúc bà Ngải về:
- Vậy là thế nào?
Tôi nghĩ ngay được câu biến báo:
- Dạ, thầy con nhận rồi sai con tết bà...
- Thật không?
- Thật ạ!
- Được rồi để tao xem lại!
Bố tôi rất ghét nói dối, xưa nay đã nói là ông làm, tôi chỉ còn biết cầu mong bố tôi quên việc đến gặp thầy. Mà rồi sau đó bố tôi quên thật. Có lẽ nhờ mải mê lau chùi những món đồ thờ. Bố tôi đã vừa làm vừa đọc lên những câu đối tiếu lâm làm cả nhà cùng cười. Tôi tạm yên dạ.
Ngoài sân bỗng vang lên tiếng chào. Tôi giật mình nhìn ra và tái mặt. Thầy tôi. Trời ơi, làm sao thầy lại đến nhà tôi vào giữa lúc này!
Tôi nhảy tọt vào buồng run còn hơn buổi sáng. Tôi nghe thầy nói:
- Có hộp mứt đến mừng tuổi ông bà. Cũng là cảm ơn ông bà đã cho bánh tết. Gớm bánh gói khéo quá. Vừa chặt tay lại vừa đẹp.
Tôi không tin ở lỗ tai của mình, vội lẻn ra khỏi buồng, chạy thẳng một mạch đến quán bà Ngải. Trên mảnh gỗ lâu nay vẫn được làm bàn thờ tổ tiên của bà vẫn là cặp bánh chưng nhà tôi lại thêm hộp mứt giống hệt cái hộp thầy vừa mừng tuổi bố mẹ tôi. Chẳng để tôi kịp hỏi bà Ngải đã a lên:
- Cậu. Bữa cho quà, cậu bỏ quên lá thơ. Lão nhờ người đọc mới biết thơ thầy u cậu gửi ông giáo. Lão vội đưa tới ông giáo ngay, nhân dịp biếu ông giáo chục cam. Cảm ơn ông giáo dạy học trò biết nhớ tới người nghèo. Ông giáo nhận thơ, lại còn cho mứt. Quý hóa quá!
Vậy là còn lá thư trong gói quà tết tôi nào biết. Nhưng tôi biết, thầy đã đọc thư, đã rõ hết chuyện, đã đỡ đòn cho tôi. Nếu không, phải ăn đòn ngày Tết thì giông cả năm. Có khi cả đời.
Nguyễn Khoa Đăng
Truyện rất ngắn này có thắt nút, mở nút dần dần như thể một vở kịch.
Nút thắt thứ nhất: Bà cụ Ngải xuất hiện vào sáng mùng hai Tết cảm ơn bố mẹ cậu học sinh đã cho bà cặp bánh chưng! Thật thót tim, lộ vở, may thay cậu bé kịp thời biến báo: Thầy giáo nhận quà biếu của bố mẹ rồi, nhưng thương bà lão hàng nước nghèo cô đơn, thầy đã sai con mang bánh biếu bà. Tạm thời nút thứ nhất được cởi.
Nút thắt thứ hai: Nguy hiểm vô cùng khi chính thầy giáo xuất hiện. Sự nói dối của cậu học sinh sẽ hoàn toàn phá sản và sẽ phải chịu nhừ đòn bởi ông bố vô cùng nghiêm khắc, thậm ghét thói nói dối. Nhưng cũng thật bất ngờ, nút thắt nghiệt ngã ấy được chính thầy giáo mở, cởi. Thầy nói: "Có hộp mứt đến mừng tuổi ông bà. Cũng là cảm ơn ông bà đã cho bánh tết. Gớm, bánh gói khéo quá, vừa chặt tay lại vừa đẹp".
Nhưng thế là thế nào? Chúng ta theo cậu bé "Chạy thẳng một mạch đến quán bà Ngải". Và đây bà Ngải cởi nốt cho chúng ta, cho cậu bé nỗi thắc mắc khó hiểu đến kỳ lạ. Chả là thế này, theo lời hồ hởi của bà Ngải: "Bữa cậu cho quà, cậu bỏ quên lá thơ. Lão nhờ người đọc mới biết thầy u cậu gửi ông giáo. Lão vội đưa tới ông giáo ngay, nhân dịp biếu ông giáo chục cam. Cảm ơn ông giáo dạy học trò biết nhớ tới người nghèo…".
Vậy là còn lá thư trong gói quà tết tôi nào biết. Nhưng tôi biết, thầy tôi đã đọc thư, đã rõ hết chuyện, đã đỡ đòn cho tôi.
Sự thật đã được phơi bày. Kín nhẽ mọi chi tiết. Một sự thật xúc động về nhân cách người thầy, trong sạch, thương học trò, thương người nghèo khổ chịu số phận không may. Truyện được viết khéo léo, dẫn dắt không khiên cưỡng mà hợp lý, hợp tình. Đáng khen nữa là các chi tiết cài đặt khá đa nghĩa. Không chỉ có tấm lòng người thầy đầy thương yêu. Mà qua bố mẹ cậu bé học trò, qua bà lão Ngải, người ta còn thấy rộng ra ý nghĩa: nhân dân vẫn hết sức giữ gìn đạo lý trân trọng người thầy. Bởi chính người thầy là một tấm gương sáng về đạo lý qua những hành xử bình thường, kín đáo tế nhị mà rất đường hoàng. Cũng nên biểu dương thêm: Tác giả không tả dài, không nói thêm, chỉ qua các nhân vật khác, từ phụ huynh, cậu học trò, bà lão Ngải, mà tính cách, nội tâm, phong độ người thầy giáo đáng kính hiện lên mồn một. Trong thời buổi thị trường đang "lên ngôi", truyện ngắn nhỏ nhắn "Đi tết thầy" của Nguyễn Khoa Đăng vẫn muốn "lên đời" những lẽ sống đẹp của con người Việt Nam ta.
LINH VÂN