Dưới đây là một đoạn trích trong truyện ngắn “Cố hương” của Trần Thị Huyền Trang:

Ông ở hai ngày rồi, ngày nào trời cũng oi bức, đêm nào trời cũng mưa. Tối đến, ông nằm nghe tiếng ễnh ương, se sắt nhớ những cơn mưa tuổi thơ dại. Mưa dứt, ba chị em bì bõm xách đèn theo cha soi ếch. Ngày hôm sau mẹ ông thế nào cũng kiếm vài củ sả, nắm rau răm với một quả bầu. Ếch xào sả ớt rau răm, ếch nấu canh bầu là hai món tuyệt vời nhất đời, hồi đó thằng bé mười tuổi, tiền thân của ông bây giờ tâm niệm một cách trang trọng như thế. Ông bỗng nhớ rất rõ hình ảnh mẹ khom mình bê nồi canh bầu to tướng trên bếp lửa rừng rực đặt xuống cái rế bự, chúm tay rắc vào giữa đám khói nghi ngút dúm hành ngò xắt nhỏ với ít tiêu bột. Mùi thơm ngào ngạt tỏa ra trong khi mẹ đưa cánh tay chặm mồ hôi trên thái dương rồi hiền hậu mỉm cười. Những bữa như thế, chị em ông không đợi mẹ sai biểu, đều răm rắp sắp chén sắp tô, nuốt nước bọt ừng ực. Còn cha ông hôm ấy thế nào cũng được một ve rượu nhỏ… Ôi những cơn mưa chuyển mùa, cơm mẹ nấu đội bung nắp vung vẫn chín, vẫn ngọt ngon cho đến tận miếng cháy đáy nồi.

Trong truyện ngắn “Cố hương” của nhà văn Trần Thị Huyền Trang, nhân vật chính là một ông già từ thành phố về quê giải quyết vấn đề trong họ tộc. Đó là một làng nghèo miền Trung, theo nhận xét của nhân vật thì “cả làng tuy rất hiếm nhà tranh, nhưng so với những làng quê ông từng ghé qua trên đường thiên lý thì quê ông chưa nhích lên được mấy tí”. Thậm chí ông còn kết luận qua hàng loạt chi tiết “không đâu chậm tiến như cái nơi này”. Nhưng bên cạnh những sự không vừa ý, bực mình, khó chịu nữa, trong sâu sa huyết quản ông nỗi niềm quê hương vẫn âm thầm thao thức. Trước khi đi vào những quan hệ thân tộc dây mơ rễ má thiêng liêng cảm động, ngay đoạn mở đầu truyện ngắn đã hiện lên những chi tiết “Tối đến, ông nằm nghe tiếng ễnh ương, se sắt nhớ những cơn mưa tuổi thơ dại. Mưa dứt, ba chị em bì bõm xách đèn theo cha soi ếch. Ngày hôm sau mẹ ông thế nào cũng kiếm vài củ sả, nắm rau răm với một quả bầu. Ếch xào sả ớt rau răm, ếch nấu canh bầu là hai món tuyệt vời nhất đời, hồi đó thằng bé mười tuổi, tiền thân của ông bây giờ tâm niệm một cách trang trọng như thế”.

Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời, ông bà ta nói vậy. Miếng ngon ở đây hiểu theo ý nghĩa văn học, đã mất đi cùng với tuổi thơ của đời người miếng ngon ấy chính nó đã trở thành một thứ đòn đau quất vào trái tim nghẹn ngào thương nhớ cố hương. Vết thương càng được khơi sâu gắn với hình ảnh mẹ thuở nào.

“Ông bỗng nhớ rất rõ hình ảnh mẹ khom mình bê nồi canh bầu to tướng trên bếp lửa rừng rực đặt xuống cái rế bự, chúm tay rắc vào giữa đám khói nghi ngút dúm hành ngò xắt nhỏ với ít tiêu bột. Mùi thơm ngào ngạt tỏa ra trong khi mẹ đưa cánh tay chặm mồ hôi trên thái dương rồi hiền hậu mỉm cười”.

Cái cách mô tả tỉ mỉ từng hình từng nét đầy xúc động như thế chứng tỏ nhân vật của chúng ta càng chìm sâu vào kỷ niệm. Không phải những ý nghĩa những tư tưởng nào đó được thuyết minh dù trang trọng thiêng liêng đến mấy mà là từng hơi nóng, từng thức gia vị, từng mùi thơm, từng hình khối vật dụng hiển hiện lên rất làng quê Bình Định với thổ ngữ của riêng vùng đất ấy. Chúng ta càng được chứng minh đúng như vậy cả nội dung lẫn hình thức ngữ ngôn trong những câu tiếp “những bữa như thế, chị em ông không đợi mẹ sai biểu, đều răm rắp sắp chén tô, nuốt nước bọt ừng ực. Còn cha ông hôm ấy thế nào cũng được một ve rượu nhỏ… Ôi, những cơn mưa chuyển mùa, cơm mẹ nấu đội bung nắp vung, vẫn chín, vẫn ngọt ngon cho đến tận miếng cháy đáy nồi”.

Nhân vật đang hồi ức là một người luống tuổi có nghĩa đã và sẽ chịu hai lần mất: tuổi thơ vĩnh viễn không còn sao tìm lại được và tương lai tới, chắc chắn ông sẽ vĩnh viễn mất cả nỗi niềm nuối ngoái hồi ức tuổi thơ, khi ông rời bỏ thế giới này. Cho nên nhích xuống câu kết truyện ngắn “Cố hương” tác giả Trần Huyền Trang đã viết rất hay văn xao xác theo cách của thơ, vì tác giả vốn chính là một nhà thơ: “Bất giác ông cất mũ khỏi đầu. Trên mái tóc bạc của con người sắp đi trọn đường đời, lũy tre quê thân thiết đính lên đó những chiếc lá vàng, mỏng nhẹ như hơi thở”.

CHIÊU THƯƠNG