Thú thật là cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa biết mấy em và mấy chị văn công ấy tên gì, nhưng hình ảnh những chàng lính biển lắc lư theo nhịp sóng, ngất ngư theo điệu hát chèo của chị em hôm đó thì tôi nhớ mãi. Đó là duyên cớ ra đời bài thơ “Lính biển xem chèo” của tôi viết cách nay đã 5 năm.

Dạo ấy vào dịp ra riêng, tôi về vùng A Hải quân công tác, đúng dịp đoàn chèo Tổng cục Hậu cần về phục vụ tại đơn vị. Sân khấu dựng giữa trời. Sau lưng là biển ì oạp vỗ sóng vào cầu cảng. Trước mặt là dãy núi đá vôi sừng sững chất ngất. Gió lồng lộng thổi, phông màn phần phật, xiêm áo văn công cũng phần phật tung bay, nhưng chị em vẫn say sưa diễn và bộ đội thì say sưa xem. Nghe nói đêm trước đoàn diễn vở chèo cổ “Lời ước nguyện”. Xem hay quá, đơn vị đề nghị đoàn lưu lại phục vụ thêm một tối nữa. Chuyện lưu lại thì dễ nhưng diễn thì hơi khó vì đoàn không chuẩn bị vở “xơ-cua”. Thế là đành diễn các trích đoạn “Thị Mầu lên chùa”, “Xúy Vân giả dại”, nàng Châu Long thay chồng nuôi bạn, hát chầu văn và hề Quốc Trượng… Đó là một bữa “nộm chèo” thật thú vị! Quả là: “Ai thương lúng liếng Thị Mầu/Mà mong trăng tỏ chen nhau vẫn chùa/Ước chi mai mốt lên bờ/Ôn thi mình cũng được nhờ Châu Long/Trời mênh mông, biển mênh mông/Đêm nay có khách má hồng lả lơi/Em gì ơi, chị gì ơi/Í a… cuối đất, cùng trời… đặng không”. Hỏi như thế là vì lính ta cứ xuýt xoa ước gì mai mốt lên tàu, thi thoảng lại được xem văn công “trực tiếp” như thế này…

Tôi chợt nhớ mấy chuyến đi Trường Sa, có văn công đi cùng ra phục vụ. Không thể tả xiết niềm vui của lính đảo khi được đón văn công. Tàu vừa buông neo là anh em theo xuồng ra đón. Giữa biển khơi, việc lên xuống tàu và xuồng cực kỳ gian truân. Hầu hết chị em văn công đều “cảm phiền” cậy nhờ anh em bồng bế cho an toàn. Xuồng cập đảo, lại một lần nữa chị em được lính bế lên đảo. Anh nào anh nấy ướt sũng nhưng vẻ mặt thì hớn hở vô cùng. Và thế là bài thơ có câu kết: “Chưa xa lính đã phập phồng/Bao giờ lại bế văn công lên tàu?”…

Bài thơ “Lính biển xem chèo” của tôi sau đó được đăng trên báo Quân đội nhân dân số Tết năm 2002; được nhà thơ Vương Trọng viết lời bình đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội; được báo Hải quân Việt Nam giới thiệu và được tuyển chọn vào tập “Hoa Biển” nhân kỷ niệm 50 năm truyền thống bộ đội Hải quân. Năm 2004, tôi đi công tác các đảo phía bắc quần đảo Trường Sa. Nhiều cán bộ, chiến sĩ ngoài đó đã ngâm “tặng” tôi bài thơ này. Đó là “giải thưởng” cao nhất mà “Lính biển xem chèo” mang lại cho tôi…

MAI NAM THẮNG