 |
|
Cha con nghệ nhân trà Trường Xuân. |
Mấy năm gần đây, khi chọn trà uống Tết, dân sành trà thường “
chấm” một loại trà thuộc dòng “
đẳng cấp” có tên gọi mang hương vị mùa xuân – Trà Trường Xuân! Nhưng ít ai biết rằng Trường Xuân không chỉ là tên một thương hiệu mà còn chính là tên người nghệ nhân đã một đời công phu, lao tâm khổ tứ vì trà. Cụ Trường Xuân cũng là một trong những người đầu tiên ở nước ta đã và đang đi tìm để trả lời câu hỏi: “
Đâu là đạo trà của người Việt?”.
Sứ giả truyền bá trà đạo Việt
Tôi đến gặp ông tiên trà ngay tại hiên trà mang tên Trường Xuân, số 13 Ngô Tất Tố, Hà Nội. Với khổ người cao lớn, mặt vuông, mắt đườm đượm lãng du, mái tóc bạc trắng nhưng cái chất hào hoa vẫn còn đó như giấu giếm đi bao nhiêu gian nan trong cuộc vật lộn với đời để bảo vệ và truyền bá đạo trà Việt. Năm nay đã 78 tuổi, cụ Trường Xuân cũng ngót 50 năm gắn đời mình với thú sưu tầm và thưởng lãm trà. Cụ là đời thứ 5, tiếp nối truyền thống từ trưởng trà đời thứ nhất sống vào đầu thế kỷ 19, buôn bán và mở tiệm trà tại Hà thành. Có thể nói, Trường Xuân được biết đến như một nghệ nhân nổi bật, lịch lãm về trà Việt. Cụ tỏ ra nhạy cảm đặc biệt trước vẻ đẹp của… trà. Cụ cùng người con trai, anh Hoàng Anh Sướng, trở thành sứ giả tự nguyện đem hiểu biết về trà đạo Việt lan tỏa trong Nam, ngoài Bắc: Đó là những buổi nói chuyện về đạo trà Việt trong các đại sứ quán; tham gia khôi phục lại phong cách uống trà của cung đình Huế tại Festival Huế; đi lên vùng cao Bảo Lộc (Lâm Đồng) truyền thụ vốn hiểu biết tại Trà Tiên Phong quán-trà quán lớn nhất Việt Nam…
Cụ Trường Xuân nhấp chén trà và nói: “Trà đạo Việt là đạo tu nhân thân dưỡng tính, và khát khao một sự giao hòa”. Theo cụ, văn hóa uống trà của người Việt chúng ta có từ rất lâu đời, tuy chưa xác định được mốc thời gian. Nhưng qua những năm khảo sát, cụ Trường Xuân đã tìm thấy ở vùng Suối Giàng một gốc chè 3 người ôm. Hay ở vùng núi Hoàng Liên Sơn, cụ đã tìm thấy bốn mươi nghìn cây trà, có chứng tích từ 156 năm đến 158 năm tuổi. Chẳng thế mà “hương trà” của Vũ Hoàng Chương luôn gắn với nghiệp của cụ như một sự sắp đặt của tạo hóa, dù vui, dù buồn, hạnh phúc hay bi kịch thì cụ vẫn nâng chén trà đến khắp mọi phận người.
Nâng chén mời anh thưởng vị trà
Đừng quên tan tác mấy đời hoa
Cạn từng hớp nhỏ cho sen đượm
Vớt lại trần ai một chút ta”.
(Qua áng hương trà
VŨ HOÀNG CHƯƠNG)
Bao nhiêu công sức, tiền bạc, tình yêu dành cho trà nhưng rồi đều đổ xuống sông, xuống biển. Cụ đã định từ bỏ trà nếu như không có một ngày… Đúng sinh nhật lần thứ 70, cậu con trai Hoàng Anh Sướng đến trước mặt cha bộc bạch:
- Con sẽ cùng cha quyết khôi phục được trà đạo!
Lời cậu con trai làm cụ như bừng tỉnh. Cụ cùng con cháu tìm địa điểm mở lại phòng trà và thành công cho đến ngày hôm nay khi mà thương hiệu trà Trường Xuân đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Những ngày giáp Tết, hai cha con cụ vẫn bận rộn viết tiếp tập sách “Trà đạo – và văn hóa uống trà”, gồm 5 chương, dày hơn năm trăm trang, chuyên sâu về văn hóa uống trà, với hy vọng giúp cho những người yêu trà có thể hiểu hơn về trà đạo Việt. Đến hôm nay hiên trà Trường Xuân đã thực sự đứng vững và thể hiện đúng vị thế của mình giữa sự tràn ngập những loại trà thế hệ mới như: Dimal, Lipton, Đài Loan…
Ba chìm bảy nổi...
Bây giờ ngồi lại, đi ngược dĩ vãng đến cái thời trai trẻ, cụ Trường Xuân mới thấy mình đánh đổi nhiều thứ cho cây trà và đạo trà Việt Nam.
Năm 16 tuổi, chàng trai hào hoa phong nhã đất Hà thành nhập ngũ và biên chế vào tiểu đoàn 40,
 |
|
Nghệ nhân Trường Xuân lựa chọn sen về ướp trà tại Hồ Tây. |
Mặt trận Cửa Bắc, Đại đoàn 308, chuyên làm nhiệm vụ khoan mìn đánh đổ cây ngăn chặn xe cơ giới Pháp. Rồi đến 19 tuổi, cụ được phân đi học lớp viết Văn quân đội - khóa I, tại làng Xà Cát, Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Tại đây, lần đầu tiên trong đời, ông tiên trà được tiếp cận với đồng chè Tân Cương. Một vùng đất hoang sơ nhưng màu mỡ, đã hun đúc cho chàng trai đất Hà thành niềm đam mê với cây chè. Cụ quyết tâm theo nghiệp đạo trà từ đó.
Trước năm 1986, đất nước ta chưa mở cửa, rất nhiều hàng hóa đang bị “bế quan”. Chè bị liệt vào thứ hàng cấm, nhưng cụ vẫn sống chết với trà. Khi đất nước mở cửa thì cụ mới có thể toàn tâm toàn ý theo đuổi đam mê nghề trà. Đến bây giờ, cụ không nhớ nổi mình đã đặt chân đến bao nhiêu vùng đất, gặp bao nhiêu người dân tộc thiểu số… để tìm tòi, cùng người dân lăn lóc ngày đêm trên đồng chè.
Trong hành trình đi tìm cây trà Việt Nam ấy, cụ đã gặp được vị hôn thê của mình. Người con gái của vùng chè, với bàn tay khéo léo đã truyền cho cụ nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghề chè. Bao nhiêu năm, hai người đã bỏ phố xá lên vùng đồi núi, sống nơi rừng thiêng nước độc. Khi tìm được giống trà tốt, tìm được chất đất, thổ nhưỡng, nguồn nước pha chế, về đến thành phố thì lại làm ăn thua lỗ. Cho đến cuối những năm 90, cụ như đoạn tuyệt với nghề trà, quay ra làm nghề nhiếp ảnh, thư pháp, viết văn… nghề nào cũng tỏ rõ sự tài hoa cả. Nhưng sau tất cả thì trà vẫn là cái nghiệp của gia đình cụ.
“Hiên trà” chứ không phải “quán trà”
Giữa không gian gồm những kiến trúc nhà ở nguy nga đồ sộ của chốn thị thành hẳn không nhiều người nhớ về một hiên nhỏ trong kiến trúc nhà ở của người Việt xưa. Nơi mà những buổi chiều rỗi rãi, người ta thường ngồi hóng gió, đàm đạo với bạn bè, người thân bên chén trà nhỏ, nơi mà những người lữ khách có thể nghỉ ngơi nếu lỡ độ đường. Cha con nghệ nhân Trường Xuân, khi lấy tên cho điểm thưởng trà độc đáo của mình đã chọn từ “hiên” thay cho “quán”, bởi mái hiên trong muôn đời của lề lối xây cất nhà người Việt thuở xưa là nơi dành cho khách trú lỡ bộ qua đường. Hiên nhà tạo ra sự giao thoa thú vị về độ sáng tối, về âm dương.
Toàn bộ không gian của Hiên trà Trường Xuân được xây dựng đúng theo phong cách thưởng trà của người xưa: trong lành, tinh khiết và thanh tịnh. Với những đôi câu đối bằng chữ Hán, bút tích của những học sĩ nổi tiếng đã từng dừng chân nơi đây sẽ mang lại cho ẩm khách những giây phút thanh tao.
Bài và ảnh: HẢI LÝ