QĐND - Xuân Thiều xuất hiện trên văn đàn đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Khi ấy ông còn là một người lính rất trẻ đang phục vụ ở một đơn vị bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời (phía Bắc sông Bến Hải - Quảng Trị). Tác phẩm đầu tay của ông được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội - Trắng đêm cũng chính là tác phẩm được giải trong cuộc thi "Viết về đời sống bộ đội trong thời bình" do tạp chí này tổ chức. Liền sau đó là truyện ngắn Dưới hầm bí mật của ông được Tạp chí Văn nghệ (Hội Văn nghệ Việt Nam) trao giải. Năm đó ông 27 tuổi.
Hai mươi bảy tuổi bước vào làng văn cho đến khi lâm bệnh, tuổi đã ngoại thất tuần ông vẫn nổi tiếng là người viết, đọc và đi khỏe. Thế mới có câu: Trời sinh ra bác Xuân Thiều/Nơi nào mở trại thì điều bác đi. Trại ở đây là trại sáng tác văn học dành cho các cây bút trẻ.
Nhưng từ sáng sớm ngày thứ tư, mồng 4 tháng 4 năm 2007, trại nào mời ông cũng không dự được nữa! Ông đã đi về miền vĩnh hằng - như tên mảnh đất ông nằm lại mãi mãi - Nghĩa trang công viên Vĩnh Hằng (Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội).
Xuân Thiều sinh năm 1930 (tuổi Canh Ngọ - đồng niên với những nhà văn quân đội khác: Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Chí Trung ) tại làng Triều Đông, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng quê nghèo nhưng hiếu học và giàu truyền thống yêu nước. Mười lăm tuổi ông đã tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương, mười bảy tuổi tòng quân và bắt đầu cuộc đời bộ đội, cuộc đời viết văn. Cuộc đời cầm súng, cầm bút của ông dường như vắt ngang qua cả hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước. Từ một người lính trơn ông trở thành đại tá, hưởng lương tương đương thiếu tướng; từ một người viết văn nghiệp dư dưới đơn vị cơ sở, ông trở thành một nhà văn tên tuổi, Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, và từng là người phụ trách Ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam (khóa V). Từ một học sinh trường làng, ông trở thành cán bộ cao cấp của quân đội, được tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, được thưởng nhiều loại huân, huy chương, trong đó có Huân chương Độc lập; trở thành một nhà tiểu thuyết, nhà truyện ngắn từng đoạt nhiều giải thưởng văn học lớn như: Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật, giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Bộ Quốc phòng, giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu...
Hành trình văn học của ông gắn liền với những cuộc hành quân chiến đấu của bộ đội, gắn liền với các chiến trường, trong đó quen thuộc nhất, gắn bó nhất đối với ông là chiến trường "Bình - Trị - Thiên khói lửa". Ở đó, những năm chiến tranh, với bút danh Nguyễn Thiều Nam, ông đã viết những tác phẩm được nhiều người biết tới như: Mặt trận kêu gọi, Chiến đấu trên mặt đường, Gieo mầm, Tâm sự chiến sĩ quản tượng, Chuyện làng Rapồng... đó là những tác phẩm đầy máu lửa nhưng cũng thật lãng mạn. Và cũng vì những năm tháng chiến đấu ấy, về sau ông mới có những Huế mùa mai đỏ, Truyền thuyết quán tiên, Xin đừng gõ cửa, Người mẹ tội lỗi... làm lay động con tim biết bao người đọc.
Ông không chỉ được biết đến bởi những bộ tiểu thuyết, những tập truyện ngắn trứ danh mà còn được biết tới bởi những tập thơ, như tập Tre xanh, tập Và nỗi nhớ với nhiều bài, nhiều câu được nhiều người thuộc, nhớ và những bài bình luận văn nghệ khi dạt dào cảm xúc, say đắm; lúc quyết liệt gay gắt nhưng rất giàu tính thuyết phục, như tập Tiếng nói của cảm xúc...
Ông có quan niệm viết về chiến tranh khá táo bạo, ông cũng là người đổi mới lối viết về đề tài chiến tranh khá sớm.
Ngoài bút danh Xuân Thiều, ông còn có bút danh là Nguyễn Thiều Nam và Tú Hói. Được hỏi tại sao lại lấy bút danh Tú Hói dưới các câu đối, giai thoại, ông trả lời bằng chính một câu đối có tính chất "tự trào" như sau:
- Có đỗ đâu mà "tú", dăm ba chữ Tây Tàu lõm bõm, cũng văn thơ, cũng câu đối nhì nhằng, vẫn cứ liều làm "tú" (tout: Tiếng Pháp có nghĩa là tất, tất tần tật).
- Đầu đã hói còn "xuân", mấy mươi năm văn nghệ lai rai, khi biên tập, khi phóng viên đắp đổi, hẳn đang muốn hồi "xuân" (xuân trong chữ Xuân Thiều, người có cái đầu hói).
Tú Hói đã làm cả trăm câu đối tặng bạn bè, người thân. Câu nào cũng đối nhau chan chát, câu nào cũng hóm hỉnh và nhiều ý tứ. Nhiều câu vô cùng táo bạo ví như câu mừng hai bậc huynh trưởng của "nhà số 4" là nhà thơ Vũ Cao và nhà văn Từ Bích Hoàng cùng sinh nhật tuổi 50, cùng vinh thăng thượng tá (1972).
- Mình năm mươi, cậu cũng năm mươi. Ừ nhỉ chúng mình tròn trăm tuổi.
- Đây cấp tá, đấy cấp tá. Ờ hay hai đứa chẵn đôi quan.
Đem "trăm tuổi", "đôi quan" ra mừng thọ thủ trưởng thì thật là to gan! Ấy vậy mà rất có ý nghĩa.
Chuyện câu đối, giai thoại về Xuân Thiều kể dài dài có thể tới cả trăm lẻ một ngày, nhưng năm hết, Tết cũng đến rất gần rồi. Hẹn đến giêng hai ngày rộng tháng dài xin lại tiếp câu chuyện về ông.
KIẾN VĂN