Hà Nội vào mùa nào cũng đẹp, nhưng thâm hậu lạ lùng đẹp nhất có lẽ là mùa thu. Nắng thu trên phố nhẹ nhàng không bị dại nhạt, gió thu qua cao ốc mát mẻ không bị lạnh khô. Trời thu Hà Nội thường rộng rãi, có lúc mây sẫm màu cồn cào thê thảm vần vũ, có lúc mênh mông tít tắp phóng khoáng cao xanh. Sao mà trời đất tự nhiên có ngày trăn trở phức tạp giống hệt như ngổn ngang lòng người, đang lâng lâng hào hứng hoan lạc chợt trầm xuống đột ngột nghẹn ngào bi tráng. Quả là một tiết mùa kỳ dị, thiên nhiên bỗng tương giao khăng khít vô cùng gần gũi đầy đẫm nhân tình.
Mùa thu có những phẩm tính tuyệt vời như vậy là nhờ đều đặn có trăng. Trăng mùa thu long lanh tròn sáng, trong trắng huyền ảo. Đã là người sống tử tế thì tất thảy đều yêu trăng. Và yêu trăng nhất đương nhiên là bọn trẻ, vì đơn giản, chẳng bao giờ bọn chúng lại hết được tử tế. Nhiều năm rồi, Trung Thu khắp nơi là của trẻ con. Ngay cả đám trẻ bây giờ trên phố, vốn bị cách bức bởi bê tông hay in-tơ-nét thì tuy mới sắp sửa Rằm vẫn náo nức đeo mặt nạ thập thò sang nhau. Tất nhiên các con giống không được nặn đất nữa. Tất nhiên đèn lồng rồi đèn ông sao bị sáng bằng điện pin. Chỉ còn tiếng hát ngọng nghịu ngây thơ "Tùng dinh, tùng dinh dinh…" là nguyên vẹn của một thời xa xưa trăng sáng.
Thực ra theo tục Tầu, thuở sơ khởi tết Trung Thu vốn của người lớn. Múa sư tử cũng là của người lớn, phá cỗ trông trăng lại càng là của người lớn. Theo âm lịch (lịch của phương Đông mặt trăng, khác với dương lịch phương Tây mặt trời) thì bắt đầu khoảng từ thời Hán, trong một năm người ta linh đình làm bốn tết lớn. Tết Nguyên đán của Xuân, Tết Đoan Ngọ của Hạ, Tết Trung Thu của Thu và Tết Đông Chí của Đông. Theo sách "Thiên bảo di sự" thì ông vua ham chơi thích bay bổng Đường Minh Hoàng đã có công hoành tráng hóa nghi lễ Trung Thu. (Tương truyền, Đường Minh Hoàng là người mê ẩm thực, chính ông đã nghĩ ra món Vằn Thắn khét tiếng, bởi có lần ông nằm mơ được nuốt mây. Tiếng Hán là Vân Thôn, khi vào ta bị đọc trại đi). Đường Minh Hoàng nhờ pháp sư Thân Thiên dùng phép thuật đưa hồn lên cung nguyệt. Lúc tỉnh về ông nhớ được vũ điệu Nghê Thường do chính các tiên nữ chân dài truyền dạy. Lân Rồng song múa rồi đèn kéo quân v.v.. cũng từ vũ đạo độc đáo của mặt trăng mà ra. Chẳng hiểu vị trí của Đường Minh Hoàng trong sử Tầu to bé thế nào, nhưng chỉ cần ông ta thăng hoa nghĩ vài món thượng thặng như thế, chắc chắn ông ta không phải loại vua tầm thường.
Tết Trung Thu của người Việt giản dị hơn, nó khác với tết Xuân là của hoa của đồ mặn, tết Thu là của quả của bánh trái. Vào cái đêm rằm lồng lộng trăng ấy, người ta sửa lễ vật dâng cúng trời đất ở nhà chùa hoặc đình, đền, miếu. Mâm cỗ chờ trăng tròn đầy na, bưởi, hồng, chuối, phưng phức mùi bánh nướng, bánh dẻo thêm nữa bánh đậu xanh, bánh phu thê. Việc cúng trăng thường do đàn bà đảm đương, đàn ông tuyệt đối không bái nguyệt. Theo triết lý Âm Dương, mặt trăng là biểu tượng của Thái Âm, nơi đặc sệt đông nghẹt chỉ toàn đàn bà là đàn bà. Chỗ âm khí dày chặt như thế mà đột nhiên có thằng con trai thì từ xưa đến nay duy nhất chỉ có thằng Cuội. Cái thằng này bản tính quen lừa các bà các cô ăn tục nói phét thành thần. Rồi khoa học phát triển, nước Mỹ cậy tiền khoe khoang cử một tay đàn ông tên là Neil Armstrong có lò dò lên đấy đi bộ mấy bước. Thực hư chưa biết ra sao, nhưng vài năm gần đây báo chí phanh phui nghi rằng hình như là chuyện bốc phét.
Người xưa nhìn trăng là thường để nuôi dưỡng giữ gìn tâm mình. Ánh trăng thong thả nhân hậu sâu xa làm dịu đi những gay gắt tính toán bạc bẽo. Thi hào đời Sơ Đường, Trương Nhược Hư rưng rưng cảm thán "Giang bạn hà niên sơ kiến nguyệt. Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân". Trăng lần đầu soi thấy ai và ai đầu tiên thấy trăng chính là một niềm bâng khuâng vô biên hạnh phúc. Ngày nay mọi người nhao nhao đô thị hóa, hay dở chưa bàn, chỉ biết ánh trăng đã bị ánh đèn cao áp thủy ngân bắt nạt. Nhìn trăng bơ vơ trên trời, tự nhiên nao nao xót xa cho cả người lẫn trăng.
Mười lăm là rằm và rằm cũng là mốc tuổi đẹp nhất của thiếu nữ. Các cô tiên trên cung trăng nếu có tuổi thì chắc cũng đang ở cữ đó. Và nếu họ có viết thơ tình thì cũng vương vãi trong veo hồn nhiên mực tím. Bởi ở cái tuổi thiên thần ấy, nếu ngập ngừng biết yêu thì cũng chỉ biết nói những lời xanh xao thơ ngây loay hoay sai ngữ pháp. Có phải vì thế mà các xã hội văn minh đều quy định lứa tuổi hôn nhân là phải qua 18, mức tuổi mà bỗng chơi vơi có nhìn trăng thì cũng đã bớt đi không biết bao nhiêu là run rẩy.
NGUYỄN VIỆT HÀ