QĐND - Cuộc đời chiến đấu của Trần Mai Ninh cũng như trường hợp hy sinh của ông đã được nhiều nhân chứng, nhiều đồng chí, đồng đội, nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn cùng thời trong đó có những đồng chí là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, là tướng lĩnh khẳng định qua những bài viết, lời kể in rải rác trên nhiều sách báo cả mấy chục năm qua. Nhưng vì nhiều lý do, trong đó có sự mai một của thời gian, sự cách trở do chiến tranh kéo dài, nên phải mãi 51 năm sau ngày Trần Mai Ninh hy sinh (1948 - 1999) ông mới được truy phong liệt sĩ (theo Quyết định số 829/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31 tháng 8 năm 1999). Dẫu có trắc trở và muộn mằn như vậy nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Trần Mai Ninh đã và sẽ còn mãi với sông núi và bạn đọc. Nhớ về ông, người đời nay nhớ về một chiến sĩ kiên cường. Nhớ về ông, người đời sau nhớ về một nhà báo, nhà văn - chiến sĩ tài ba dù rằng, sinh thời ông luôn luôn tự răn mình, “sống đã... rồi hãy viết văn”.
Trần Mai Ninh tên thật là Nguyễn Thường Khanh, sinh ngày 28 tháng 7 năm 1917, quê quán làng Động Giã, huyện Thanh Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội), lớn lên và trú quán tại thành phố Thanh Hóa. Thân phụ ông là cụ Nguyễn Xuân Tuyển - một viên chức nhỏ và thân mẫu ông, cụ Công Tôn Nữ Thuyền Duyệt đều đã mất. Nay gia đình ông còn chị ruột Nguyễn Thị Khiêm Tôn (tức sư bà Viên Minh) hiện ở chùa Hồng Ân (Huế) và các em Nguyễn Thị Thanh - nguyên là bác sĩ công tác ở Ủy ban bảo vệ bà mẹ trẻ em Trung ương và là vợ của Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Trọng Nhân (nguyên Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam), Nguyễn Thị Sinh và Nguyễn Thọ Hạc hiện đều ở Hà Nội.
Lúc thiếu thời, Trần Mai Ninh học Thành chung ở thành phố Thanh Hóa, sau ra Hà Nội học tiếp tú tài. Ngay từ thời còn đi học, Trần Mai Ninh đã cùng một số bạn bè ra tờ báo có tên “Con sáo” để phê phán nền giáo dục thực dân và nói lên lý tưởng của tuổi trẻ học đường. Sau đó ông tiếp tục viết bài và trực tiếp tham gia biên tập các tờ báo của Đảng xuất bản trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939) như: Bạn dân, Thời thế (1937), Tin tức, Thế giới, Người mới (1938) và Bạn đường, Tự do ở Thanh Hóa... với các bút danh: KT, Mạc Đỗ, Trần Mai Ninh, Hồng Diện, Nguyễn Thường Khanh. Ông không những là một ngòi bút sắc sảo, xông xáo, nhiệt huyết mà còn là một người vẽ tranh minh họa và trình bày báo có tài.
Nói về Trần Mai Ninh, nhà báo, nhà phê bình văn học Như Phong, bạn cùng thời viết: “Nguyễn Thường Khanh đã là một nhà báo, trong đội ngũ những nhà báo mới do Đảng đào tạo, mà lập trường đường lối của Đảng và phương pháp nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã tạo cho một chỗ đứng và một cách nhìn vững chắc để xem xét và giải quyết mọi vấn đề một cách vừa khoa học, vừa cách mạng”.
Năm 1939, Trần Mai Ninh trở về bí mật hoạt động ở Thanh Hóa. Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia chiến đấu ở chiến khu Ngọc Trạo. Ngày 19 tháng 10 năm 1941, thực dân Pháp tấn công lên Ngọc Trạo, ông và nhiều du kích khác bị bắt và bị kết án 10 năm tù cầm cố ở nhà lao Thanh Hóa rồi chuyển về nhà lao Buôn Ma Thuột. Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Trần Mai Ninh thoát khỏi nhà tù và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Phú Yên. Tháng 5 năm 1946 ông tham gia quân đội và là Trưởng ban tuyên truyền Đại đoàn 27 (sau đổi là Quân khu 6). Cuối năm 1947, theo yêu cầu của công tác vùng sau lưng địch, ông được cử vào cực nam Trung Bộ hoạt động. Trên một chuyến công tác ở vùng ven biển Nha Trang ông bị địch bắt. Bị chúng tra tấn dã man nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ngày 27 tháng 7 năm 1948 ông hy sinh sau những trận đòn ác hiểm của quân thù và trở thành một trong những “văn nghệ binh đầu tiên ngã xuống trên chiến trường” trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp vì độc lập tự do của dân tộc.
Sinh thời, văn phẩm của Trần Mai Ninh để lại không nhiều, lại bị thất lạc ở nhiều chỗ, nhiều nơi, nhiều thời điểm, nhưng chỉ bằng gần năm chục bài thơ, một tiểu luận, một truyện ngắn, hai truyện dài mà hôm nay chúng ta có trên tay, vẫn có thể nhận ra một nét riêng, thật riêng trong sáng tác của Trần Mai Ninh. Ấy là những trang viết đầy nhiệt huyết với cuộc đời, với nhân dân và với Tổ quốc. Ấy là một giọng văn cường tráng và khỏe khoắn như chính cuộc đời chiến đấu của ông: Ơ cái gió Tuy Hòa/ Cái gió chuyên cần/ Và phóng túng”.
“Cái gió Tuy Hòa” trong bài “Nhớ máu” ông viết đêm 9 tháng 11 năm 1946 tại mặt trận Tuy Hòa ấy, nửa thế kỷ qua rồi còn thổi, thổi tới hôm nay. Ấy là tình sông núi, là tấm lòng của một tuổi trẻ yêu nước, vì nước không quản hy sinh. Đọc lại Trần Mai Ninh dường như trang nào, dòng nào cũng thấy nặng tình sông núi, tình người, tình đời.
Ở bài tiểu luận “Sống đã... rồi viết văn”, ông viết: “Ta hãy khoan nói đến viết lách. Tôi hỏi anh đã có lần nhìn kỹ một vật nào, một người nào, một cảnh nào chưa? Anh trả lời đi đã rồi ta hãy sẽ luận bàn văn chương”.
Và, Trần Mai Ninh thổ lộ trong bài “Tình sông núi”:
Khi vui non nước cùng cười
Khi căm non nước với người đứng lên!
Có mối tình nào hơn thế nữa?
Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền
Có mối tình nào hơn thế nữa?
Trộn hòa lao động với giang sơn
Có mối tình nào hơn
Tổ quốc?
Lúc thiếu thời, lúc còn cắp sách đến trường, trong bài thơ “Ngày khai trường”, ông đã ao ước có một ngày: “Cả Tổ quốc tới khai trường hạnh phúc”. Và ông đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng cho ngày đó, cho hôm nay. Trần Mai Ninh đã đi xa hơn nửa thế kỷ, hôm nay tưởng nhớ ông, đọc lại những trang viết của ông vẫn thấy có gió gào, vẫn thấy trong ông trĩu nặng “Tình sông núi”.
KIẾN VĂN